Banner Logo
TRANG CHỦ GIỚI THIỆU TIN HOẠT ĐỘNG ANTT TRONG TỈNH TIN TRONG NƯỚC TIN QUỐC TẾ VĂN BẢN PL HỒ SƠ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH THÔNG BÁO
TRANG CHỦ > Tin hoạt động > Tuyên truyền pháp luật Bản in  |  Gửi thư  |  Kênh RSS
TÀI LIỆU TẬP HUẤN LUẬT TỔ CHỨC CƠ QUAN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ NĂM 2015

          LÃNH ĐẠO VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO DUYỆT TÀI LIỆU:

Đồng chí Nguyễn Hải Phong, Phó Viện trưởng thường trực VKSND tối cao;

Đồng chí Bùi Mạnh Cường, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

ĐƠN VỊ CHỦ TRÌ XÂY DỰNG TÀI LIỆU:

Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học

THÀNH VIÊN THAM GIA BIÊN SOẠN TÀI LIỆU:

1. Đồng chí Lê Minh Long, Phó Cục trưởng Cục điều tra VKSND tối cao; Tổ trưởng

2. Đồng chí Dương Văn Quý, Trưởng phòng 1, Cục điều tra VKSNDTC

3. Đồng chí Lại Thị Thu Hà, Trưởng phòng Quản lý khoa học và tổng hợp - Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học

ĐƠN VỊ THẨM ĐỊNH TÀI LIỆU:

Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học

        

GIỚI THIỆU NHỮNG ĐIỂM MỚI QUY ĐỊNH TRONG 

LUẬT TỔ CHỨC CƠ QUAN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ

I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT TỔ CHỨC CƠ QUAN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ

1. Mục tiêu

Việc xây dựng Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự nhằm tiếp tục thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp và đổi mới tổ chức, hoạt động của Cơ quan điều tra, bảo đảm tính thống nhất và sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật, khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009), nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra hình sự trong tình hình mới.

2. Quan điểm chỉ đạo khi xây dựng Luật

Một là, thể chế hóa chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước về cải cách tư pháp, về tổ chức của các cơ quan điều tra hình sự.

Hai là, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động điều tra hình sự; bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với quy định của các đạo luật mới được Quốc hội thông qua như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự

Ba là, trên cơ sở kết quả tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật về tổ chức điều tra hình sự; kế thừa các quy định còn phù hợp, khắc phục những bất cập, hạn chế của pháp luật về điều tra hình sự; đáp ứng yêu cầu của công tác điều tra hình sự trong tình hình hiện nay và những năm tiếp theo; Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn tổ chức điều tra hình sự của một số nước phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam.

Bốn là, bảo đảm sự chỉ đạo, chỉ huy tập trung thống nhất, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động điều tra hình sự; phân công, phân cấp rành mạch và được kiểm soát chặt chẽ; điều tra nhanh chóng, kịp thời, chính xác, khách quan, toàn diện, đầy đủ, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

II. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỔ CHỨC CƠ QUAN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ

1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 26/11/2015 tại kỳ họp thứ 10 gồm 10 chương, 73 điều quy định về nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự; tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Điều tra viên và các chức danh khác trong điều tra hình sự; quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát trong hoạt động điều tra hình sự; bảo đảm điều kiện hoạt động điều tra hình sự và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Cụ thể như sau:

Chương I. Những quy định chung gồm 14 điều (từ Điều 1 đến Điều 14), quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự; hệ thống các Cơ quan điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra; các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này; trách nhiệm của Viện kiểm sát trong kiểm sát hoạt động điều tra; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và công dân trong hoạt động điều tra; giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động điều tra hình sự; các hành vi bị nghiêm cấm. Nội dung của Chương I là cơ sở để quy định về tổ chức, các nguyên tắc, phân công, phân cấp, phân quyền về điều tra, quan hệ phối hợp, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan điều tra hình sự, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng, Điều tra viên trong hoạt động điều tra hình sự.

Chương II. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra của Công an nhân dân gồm 02 mục với 07 điều (từ Điều 15 đến Điều 21). Cụ thể như sau: 

Mục 1 gồm 03 điều (từ Điều 15 đến Điều 17) quy định về tổ chức bộ máy Cơ quan An ninh điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an, Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh.

Mục 2 gồm 04 điều (từ Điều 18 đến Điều 21) quy định về tổ chức bộ máy của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện.

Chương III. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân gồm 02 mục với 07 điều (từ Điều 22 đến Điều 28). Cụ thể như sau:

Mục 1 gồm 03 điều (từ Điều 22 đến Điều 24) quy định về tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra trong Quân đội nhân dân; Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương.

  Mục 2 gồm 04 điều (từ Điều 25 đến Điều 28) quy định về tổ chức bộ máy của Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân; Nhiệm vụ, quyền hạn Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương; Cơ quan điều tra hình sự khu vực.

Chương IV. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm 03 điều (từ Điều 29 đến Điều 31) quy định về:

- Tổ chức bộ máy Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Chương V. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm 08 điều (từ Điều 32 đến Điều 39) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, các cơ quan của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Chương VI. Quan hệ phân công và phối hợp trong hoạt động điều tra hình sự gồm 05 điều (từ Điều 40 đến Điều 44) quy định về quan hệ giữa các cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát, uỷ thác điều tra, trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan Công an, Quân đội các cấp, trách nhiệm của Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an đối với hoạt động điều tra hình sự.

Chương VII. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Cán bộ điều tra gồm 15 điều (từ Điều 45 đến Điều 59) quy định về: Tiêu chuẩn bổ nhiệm, nhiệm kỳ, hạn tuổi phục vụ; Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên, của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Những việc Điều tra viên không được làm; Hội đồng thi tuyển Điều tra viên các cấp; Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức danh Điều tra viên, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Cán bộ điều tra.

Chương VIII. Bảo đảm điều kiện cho hoạt động điều tra hình sự gồm 04 điều (từ Điều 60 đến Điều 63) quy định về chế độ, chính sách đối với người làm công tác điều tra hình sự; bảo đảm biên chế, đào tạo, bồi dưỡng trong công tác điều tra hình sự; bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí phục vụ hoạt động điều tra hình sự.

Chương IX. Trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong công tác điều tra hình sự gồm 07 điều (từ Điều 64 đến Điều 70) quy định về trách nhiệm quản lý về công tác điều tra hình sự; trách nhiệm trong công tác điều tra hình sự của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng VKSND tối cao, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; trách nhiệm của các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Chương X. Điều khoản thi hành gồm 03 điều (từ Điều 71 đến Điều 73) quy định về hiệu lực thi hành; quy định chuyển tiếp; quy định chi tiết.

2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CƠ BẢN

Giới thiệu những điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản trong Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 (viết tắt là Luật) so với Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009) (viết tắt là Pháp lệnh)

1. Về đối tượng, phạm vi điều chỉnh

Pháp lệnh: Không quy định về vấn đề này nên nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập khi áp dụng Pháp lệnh trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Mặt khác, về kỹ thuật xây dựng văn bản đây cũng là thiếu sót trong quá trình xây dựng Pháp lệnh, không bảo đảm được tính minh bạch, rõ ràng của văn bản quy phạm pháp luật.

Luật (Điều 1, Điều 2): Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã quy định cụ thể về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng luật. Theo đó, phạm vi điều chỉnh của Luật được xác định là quy định về nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự; tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Điều tra viên và các chức danh khác trong điều tra hình sự; quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát trong hoạt động điều tra hình sự; bảo đảm điều kiện cho hoạt động điều tra hình sự và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đối tượng áp dụng Luật gồm: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

2. Về nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự

Pháp lệnh (Điều 5): quy định 03 nguyên tắc cơ bản như sau:

(1) Chỉ Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới được tiến hành điều tra các vụ án hình sự. Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.

(2) Hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; phát hiện chính xác, nhanh chóng mọi hành vi phạm tội, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người có hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

(3) Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấp trên.

Luật (Điều 3): Trên cơ sở kế thừa quy định của Pháp lệnh, Luật đã sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc theo hướng ngắn gọn, rành mạch, rõ ràng và đầy đủ hơn. Theo đó, tổ chức điều tra hình sự phải bảo đảm 04 nguyên tắc sau:

(1) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu được xây dựng trên cơ sở kế thừa nguyên tắc mọi hoạt động điều tra phải tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự trong Pháp lệnh năm 2004. Nguyên tắc này rất cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng các chủ thể của hoạt động điều tra hình sự áp dụng các biện pháp tùy tiện, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, tự do, tài sản và các quyền, lợi ích cơ bản khác của cá nhân, tổ chức

(2) Bảo đảm sự chỉ đạo, chỉ huy tập trung thống nhất, hiệu lực, hiệu quả; phân công, phân cấp rành mạch, chuyên sâu, tránh chồng chéo và được kiểm soát chặt chẽ; điều tra kịp thời, nhanh chóng, chính xác, khách quan, toàn diện, đầy đủ, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội;

(3) Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấp trên; cá nhân chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình;

(4) Chỉ cơ quan, người có thẩm quyền quy định trong Luật này mới được tiến hành hoạt động điều tra hình sự. Trên cơ sở quy định của Pháp lệnh, nguyên tắc này đã được tách thành nguyên tắc độc lập nhằm nhấn mạnh tính chất đặc thù, tách bạch giữa hoạt động điều tra hình sự với các hoạt động điều tra, xác minh của cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là chủ thể của hoạt động điều tra hình sư như: điều tra dân số, điều tra của cơ quan báo chí, công ty thám tử, luật sư.... 

3. Về những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động điều tra hình sự

Pháp lệnh: Không quy định.

Luật (Điều 14): Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm tính khách quan trong hoạt động điều tra hình sự, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã bổ sung quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động điều tra hình sự, bao gồm:

- Làm sai lệch hồ sơ vụ án; truy cứu trách nhiệm hình sự người không có hành vi phạm tội; không truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự; ra quyết định trái pháp luật; ép buộc người khác làm trái pháp luật; làm lộ bí mật điều tra vụ án; can thiệp trái pháp luật vào việc điều tra vụ án hình sự.

- Bức cung, dùng nhục hình và các hình thức tra tấn hoặc đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người hay bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Cản trở người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa, trợ giúp pháp lý; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự.

- Cản trở người bào chữa, người thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện việc bào chữa, trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

- Chống đối, cản trở hoặc tổ chức, lôi kéo, xúi giục, kích động, cưỡng bức người khác chống đối, cản trở hoạt động điều tra hình sự; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người thi hành công vụ trong điều tra hình sự.

4. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra, của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

4.1 Về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra chuyên trách

Pháp lệnh (Điều 3): Quy định chung về nhiệm vụ của Cơ quan điều tra. Theo đó, cơ quan điều tra tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.

Luật (Điều 8): Quy định cụ thể, rõ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra, bao gồm:

(1) Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;

(2) Tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao;

(3) Tiến hành điều tra các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do luật định để phát hiện, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội; lập hồ sơ, đề nghị truy tố;

(4) Tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.

So với Pháp lệnh, Luật đã bổ sung quy định Cơ quan điều tra được tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao. Đây là những nhiệm vụ đã và đang được Cơ quan điều tra thực hiện nhưng lại không được quy định trong Pháp lệnh mà được quy định ở các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh và BLTTHS.

4.2 Về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Pháp lệnh (Điều 4): Quy định chung về nhiệm vụ của các Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trên cơ sở phân định cụ thể quyền hạn của từng cơ quan.

Luật (Điều 10): Bổ sung làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ngay từ khi khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Theo đó, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà tiếp nhận được tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Lut tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Việc bổ sung quy định này là cần thiết nhằm khắc phục những bất cập làm ảnh hưởng đến yêu cầu “nhanh chóng, kịp thời” trong đấu tranh, phòng, chống tội phạm nói chung, điều tra, khám phá tội phạm nói riêng.

5. Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra

Pháp lệnh (Điều 6): Quy định về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra hình sự. Theo đó, Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra; có trách nhiệm phát hiện kịp thời và yêu cầu Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; có quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa đối với những vụ án do Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tra thụ lý điều tra.

Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện những yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Luật (Điều 11): Trên cơ sở kế thừa quy định của Pháp lệnh, sửa đổi, bổ sung phù hợp với quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTHS năm 2015, làm rõ hơn trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát theo quy định pháp luật.

6. V tổ chức b máy và thẩm quyền của Cơ quan điều tra chuyên trách

6.1 Về hệ thống Cơ quan điều tra

Pháp lệnh (Điều 1): Cơ quan điều tra của Công an nhân dân; Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân; Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Luật (Điều 4): trên cơ sở kế thừa quy định của Pháp lệnh về hệ thống Cơ quan điều tra, tiếp tục quy định Hệ thống Cơ quan điều tra gồm: Cơ quan điều tra của Công an nhân dân; Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân; Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

6.2 Tổ chức bộ máy và thẩm quyền của Cơ quan điều tra của Công an nhân dân

a) Về tổ chức bộ máy

- Đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra

Pháp lệnh (Điều 9): Trong tổ chức của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thành lập các Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, tội phạm về tham nhũng, tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, tội phạm về ma túy và Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra. Trong tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thành lập các Phòng, tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện thành lập các đội tương ứng điều tra tội phạm về trật tự xã hội, tội phạm trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, tội phạm về ma túy và Văn phòng (bộ máy giúp việc) Cơ quan Cảnh sát điều tra. Không có tổ chức bộ máy điều tra tội phạm về tham nhũng riêng biệt ở cấp tỉnh, cấp huyện.

Luật (Điều 18): Để bảo đảm sự phù hợp với thực tiễn hoạt động điều tra và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, tăng cường tính chuyên sâu của hoạt động điều tra, đảm bo sự phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra trinh sát và hoạt động điều tra theo tố tụng trong tổ chức bộ máy Cơ quan cảnh sát Điều tra Bộ Công an, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã hợp nhất Cục cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ thành Cục cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế và chức vụ và thành lập mới Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, xâm phạm sở hữu trí tuệ (gọi tắt là Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu). Đồng thời, trong tổ chức bộ máy Cơ quan cảnh sát điều tra Công án cấp tỉnh thành lập mới Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, xâm phạm sở hữu trí tuệ (gọi tắt là Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu); đổi tên phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ thành phòng CSĐT tội phạm về tham nhũng, kinh tế và chức vụ; ở cấp huyện đổi tên đội CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ thành đội CSĐT tội phạm về tham nhũng, kinh tế và chức vụ; gọi tắt của Cục, Phòng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội là Cục, Phòng, Đội Cảnh sát hình sự;  Không quy định Cơ quan Cảnh sát điều tra có “bộ máy giúp việc” và quy định thành lập “Đội điều tra tổng hợp” ở Cơ quan CSĐT - Công an cấp huyện.

- Đối với Cơ quan An ninh điều tra, Luật (Điều 15) kế thừa nguyên quy định của Pháp lệnh (Điều 10): Tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an gồm có các phòng điều tra, phòng nghiệp vụ và Văn phòng Cơ quan An ninh điều tra. Tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh gồm có các đội điều tra, đội nghiệp vụ và bộ máy giúp việc Cơ quan An ninh điều tra.

b) Về thẩm quyền

- Đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra

Pháp lệnh (Điều 11): Phân định thẩm quyền giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp huyện, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an theo hướng: cấp huyện điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của cơ quan Cảnh sát điều tra khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân;  Cấp tỉnh điều tra các tội phạm nêu trên khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra; Cấp trung ương điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Luật (Điều 19, Điều 20, Điều 21): Để giải quyết những vướng mắc, bất cập trên thực tiễn, Luật quy định theo hướng tăng thẩm quyền điều tra cho cấp tỉnh, cấp huyện, tạo điều kiện cho cấp trung ương thực hiện tốt việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác điều tra. Đồng thời, Luật quy định cụ thể, rõ ràng hơn về những trường hợp vụ án thuộc thẩm quyền của cấp dưới nhưng cấp tỉnh, cấp trung ương lấy lên để điều tra. Theo đó, trường hợp tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cấp huyện, cấp tỉnh chỉ điều tra khi tội phạm đó xảy ra trên địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc trung ương, phạm tội có tổ chức hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra. Cấp trung ương chỉ tiến hành điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền cấp tỉnh về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra. Đồng thời, bổ sung thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an tiến hành điều tra các vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại.

- Đối với Cơ quan An ninh điều tra:

Pháp lệnh (Điều 12): Cấp tỉnh điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan An ninh điều tra khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh. Cấp trung ương điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Luật (Điều 16, Điều 17): Tương tự như đổi mới về phân cấp thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp, Luật quy định cấp trung ương chỉ tiến hành điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền cấp tỉnh về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra. Đồng thời, bổ sung thẩm quyền của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an tiến hành điều tra các vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra của Công an nhân dân do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại. Ngoài ra, Luật còn bổ sung thẩm quyền điều tra cho Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh đối với các tội khủng bố, tội tài trợ khủng bố. Đồng thời, để đảm bảo tính linh hoạt, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, nhất là trong trường hợp do yêu cầu chính trị, phải chuyển hướng xử lý đối với tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, Luật còn bổ sung thẩm quyền cho Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh điều tra các vụ án hình sự về tội phạm khác liên quan đến an ninh quốc gia hoặc để đảm bảo khách quan theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Công an.

6.3. Đối với Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân

a) Về tổ chức, bộ máy:  Luật (Điều 22, Điều 25) kế thừa quy định của Pháp lệnh (Điều 13, Điều 14). Theo đó, tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng gồm có các phòng điều tra, phòng nghiệp vụ và bộ máy giúp việc. Tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương gồm có Ban điều tra và bộ máy giúp việc.

b) Về thẩm quyền điều tra

- Đối với Cơ quan điều tra hình sự

Pháp lệnh (Điều 15): Phân định thẩm quyền giữa Cơ quan điều tra hình sự khu vực và Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương theo hướng: cấp khu vực điều tra các vụ án hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương;  Cấp quân khu và tương đương điều tra các tội phạm nêu trên khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân khu và tương đương hoặc  các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cấp khu vực nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra; Cấp trung ương điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cấp quân khu và tương đương nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Luật (Điều 26, Điều 27, Điều 28): Nhằm tăng tính rành mạch trong phân cấp thẩm quyền điều tra giữa Cơ quan điều tra các cấp trong quân đội nhân dân, bảo đảm phù hợp với quy định của BLTTHS năm 2015, đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trong quân đội yếu tố nước ngoài, tạo điều kiện Cơ quan điều tra cấp Bộ thực hiện tốt việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác điều tra, Luật đã có những nội dung đổi mới cơ bản như sau:

(1) Làm rõ hơn trường hợp Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng, Cơ quan quan điều tra hình sự quân khu và tương đương điều tra các vụ án về những tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra hình sự cấp dưới. Cụ thể: Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng chỉ tiến hành điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền Cơ quan quan điều tra hình sự quân khu và tương đương về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trên địa bàn nhiều quân khu và tương đương, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

(2) Bổ sung thẩm quyền của Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng điều tra các vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự trong quân đội nhân dân do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại.  

(3) Cơ quan điều tra hình sự khu vực tiến hành điều tra vụ án hình sự về tội phạm quy định từ các Chương XIV đến Chương XXV của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quan sự cùng cấp, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát Quân sự Trung ương và Cơ quan an ninh điều tra trong quân đội nhân dân

- Đối với Cơ quan an ninh điều tra

Pháp lệnh (Điều 16): Cấp quân khu và tương đương điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự quân khu và tương đương; Cấp bộ điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cấp quân khu và tương đương nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Luật (Điều 23, Điều 24):

(1) Làm rõ hơn trường hợp Cơ quan an ninh điều tra Bộ quốc phòng điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan an ninh điều tra cấp quân khu và tương đương. Cụ thể, Cơ quan an ninh điều tra Bộ Quốc phòng chỉ tiến hành điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền Cơ quan quan An ninh điều tra quân khu và tương đương về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trên địa bàn nhiều quân khu và tương đương, hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

(2) Bổ sung thẩm quyền Cơ quan an ninh điều tra quân khu và tương đương điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XIII, Chương XXVI và các tội phạm quy định tại các điều 207, 208, 282, 283, 284, 299, 300, 303, 304, 305, 309, 337, 338, 347, 348, 249 và 350 (Trước đây các điều luật trên thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra hình sự quân đội, trong đó có các tội khủng bố, tội tài trợ khủng bố).

(3) Bổ sung thẩm quyền Cơ quan an ninh Bộ Quốc phòng điều tra vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra của Quân đội nhân dân do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại.

6. V nhiệm vụ, quyền hạn các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

6.1. Về tổ chức hoạt động

Pháp lệnh (Điều 2, các Điều từ 19-25): Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm có Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Luật (Điều 9): Nhằm tạo cơ chế đảm bảo các tố giác, tin báo về tội phạm được tiếp nhận và xử lý nhanh chóng kịp thời, thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, Luật đã có nhiều đổi mới quan trọng trong quy định về tổ chức Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

(1) Nhằm tinh gọn đầu mối cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Luật không quy định Trại tạm giam, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp, Cảnh sát quản lý hành chính là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, vì thực tế cho thấy, đối tượng quản lý của Trại tạm giam, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp là các đối tượng thuộc các vụ án cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử nên nếu các đối tượng này vi phạm pháp luật hình sự trong Trại tạm giam hoặc khi Cảnh sát hỗ trợ tư pháp đang áp giải, quản lý thì Cơ quan điều tra có thẩm quyền sẽ tiến hành khởi tố vụ án, điều tra để bảo đảm khách quan, vì các đối tượng này thường phạm các tội có liên quan đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc chế độ giam giữ. Bên cạnh đó, Trại tạm giam, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp, Cảnh sát quản lý hành chính là các cơ quan quản lý ở các lĩnh vực có tính đặc thù không cao, có trụ sở ngay gần trụ sở của Cơ quan điều tra, nên khi xảy ra vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì các cơ quan này thường báo ngay Cơ quan điều tra chuyên trách có thẩm quyền để tiến hành điều tra. Tổng kết thực tiễn thi hành Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 cho thấy, các cơ quan này không tiến hành khởi tố vụ án hình sự trên thực tế. Việc quy định các cơ quan này có quyền hạn tiến hành một số hoạt động điều tra là không cần thiết.

(2) Bổ sung quy định Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (cấp bộ), Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao (cấp tỉnh) là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin truyền thông, đặc biệt là mạng internet, tội phạm sử dụng công nghệ cao cũng phát triển với nhiều phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt, thay đổi thường xuyên thậm chí là thay đổi hàng giờ, lợi dụng vào sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng internet, có thể coi đây như là một thế giới phẳng không biên giới, tội phạm trong và ngoài nước liên kết hình thành nhiều đường dây, tổ chức phạm tội xuyên quốc gia phạm tội trong nhiều lĩnh vực kinh tế, trật tự an toàn xã hội kể cả an ninh quốc gia.

Dự báo trong thời gian tới, tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao tiếp tục diễn biến phức tạp, với thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, đòi hỏi hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ đối với hoạt động phạm tội sử dụng công nghệ cao phải đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra, kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, giảm thiểu hậu quả thiệt hại, cũng như kịp thời phát hiện thu giữ tang vật, tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội phục vụ công tác điều tra, bảo đảm hiệu quả, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao tuy đã được thành lập, nhưng do chưa được quy định là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực thi nhiệm vụ, không bảo đảm tính kịp thời trong đấu tranh chống loại tội phạm này do đặc thù của tội phạm sử dụng công nghệ cao chủ yếu hoạt động trên môi trường mạng viễn thông, internet, tội phạm sử dụng các thiết bị điện tử công nghệ cao nên thời gian gây án thường diễn ra rất nhanh, rất dễ thay đổi, che dấu thông tin, trốn tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng; các dấu vết liên quan đến hoạt động phạm tội chủ yếu là các dữ liệu điện tử nên rất dễ sửa chữa hoặc tẩy xóa. Rất nhiều vụ phạm tội được phát hiện nhưng do không có thẩm quyền điều tra ban đầu như tiến hành khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu… nên sau khi báo Cơ quan điều tra để phối hợp thì thời cơ đã qua, tài liệu, chứng cứ đã bị tội phạm che dấu hoặc xóa mất.

Tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đa số các quốc gia trên thế giới đều thành lập các cơ quan đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao có thẩm quyền tiến hành điều tra, ví dụ: Nga, Mỹ đều có cơ quan điều tra tội phạm mạng; Nhật Bản, Trung Quốc thành lập Cục Bảo vệ an ninh mạng; Úc thành lập Trung tâm phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao; Hàn quốc, Srilanca, Lào, Philippin... cũng đều có Cục cảnh sát điều tra tội phạm mạng. Tất cả các cơ quan này đều là các cơ quan có thẩm quyền điều tra để thuận lợi, chủ động hơn trong quá trình điều tra, xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao. Xu hướng của các nước trên thế giới là tăng cường hợp tác nhằm đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm này. Hội đồng liên minh Nghị viện thế giới đã có nghị quyết về vấn đề phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trong tình hình hiện nay, đồng thời đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này, Luật đã bổ sung quy định Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao là cơ quan của lực lượng Cảnh sát được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm ghi nhận thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu của Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.

(3) Bổ sung Kiểm ngư (Cục Kiểm ngư, Chi cục Kiểm ngư vùng) là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để tạo cơ sở pháp lý cho lực lượng này làm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển đảo và đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực thủy sản trên biển.

6.2. Về thẩm quyền và thời hạn điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

a) Về thẩm quyền điều tra

Pháp lệnh (Điều 4, các điều từ Điều 19 đến Điều 25): Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo thẩm quyền nhưng không có nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Do vậy, mặc dù trong thực tiễn các cơ quan này tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm (có dấu hiệu của tội phạm) thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan mình nhưng không được giải quyết mà phải chuyển đến cho cơ quan điều tra để giải quyết. Theo đó, không bảo đảm mục đích nhanh chóng, kịp thời trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Luật (Điều 10, các điều từ Điều 32 đến Điều 39)

(1) Nhằm khắc phục bất cập của thực tiễn, Luật quy định các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và điều tra theo quy định của Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự và quy định của BLTTHS.

(2) Để bảo đảm tính kịp thời trong việc xử lý, giải quyết đối với tin báo, tố giác về tội phạm và các vụ án xảy ra ở nơi xa xôi, hẻo lánh. Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự quy định bổ sung quyền hạn điều tra cho Đồn Biên phòng đóng ở vùng sâu, vùng xa được tiến hành điều tra đối với 9 tội có liên quan đến yếu tố qua biên giới, như các tội: buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới… và giao Chính phủ xem xét, quyết định các Đồn biên phòng được coi là ở vùng sâu, vùng xa.

b) Về thời hạn điều tra:

Pháp lệnh (Điều 4, các điều từ Điều 19 đến Điều 25): Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển có quyền hạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đề nghị truy tố trong thời hạn 20 ngày kể từ khi khởi tố vụ án đối với tội phạm quả tang, ít nghiêm trọng, chứng cứ, lý lịch rõ ràng. Tuy nhiên, tổng kết thực tiễn cho thấy, thời hạn quy định 20 ngày không đủ để các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển tiến hành điều tra, hoàn thiện hồ sơ để chuyển Viện kiểm sát đề nghị truy tố. Bên cạnh đó, Pháp lệnh quy định về quyền hạn khởi tố bị can trong trường hợp này của Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, chỉ quy định chung là tiến hành các biện khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng lại không quy định rõ họ có thẩm quyền hỏi cung bị can nên thiếu cơ sở pháp lý để Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển thực hiện quyền hạn của mình.

Luật (Điều 10, các điều từ Điều 32 đến Điều 39): Nhằm khắc phục vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự tăng thời hạn điều tra cho các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Kiểm ngư khi điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng từ 20 ngày lên 01 tháng. Đồng thời, dẫn chiếu thẩm quyền sang BLTTHS năm 2015, quy định Thủ trưởng các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền hỏi cung bị can đối với các vụ án mà các cơ quan này đã khởi tố bị can.

7. Về trách nhiệm của Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an trong hoạt động điều tra hình sự

Pháp lệnh: Không quy định

Luật (Điều 44): Trong quá trình xây dựng dự án Luật có hai loại ý kiến: Loại thứ nhất cho rằng không nên quy định trách nhiệm của Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an vào trong Luật này. Bởi vì trên thực tế, Công an xã là lực lượng bán chuyên trách, trình độ của Công an xã vẫn còn hạn chế, chưa được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ điều tra. Việc giao thêm một số hoạt động điều tra ban đầu cho Công an xã sẽ vượt quá khả năng của Công an xã, dễ dẫn đến việc làm sai lệch trong điều tra vụ án hình sự, gây khó khăn cho cơ quan điều tra chuyên trách hoặc làm bỏ lọt tội phạm. Loại ý kiến thứ hai nhất trí tán thành với việc đưa trách nhiệm của Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an vào trong Luật này, bởi lẽ trên thực tế rất nhiều trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an là cơ quan trực tiếp và đầu tiên tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Việc giao các cơ này tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển cho cơ quan điều tra chuyên trách, phối hợp với cơ quan điều tra trong hoạt động điều tra hình sự là phù hợp, nhất là ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa. Mặt khác, Điều 9 Pháp lệnh Công an xã năm 2008 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Công an xã: “Tiếp nhận, phân loại, xử lý theo thẩm quyền các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã; kiểm tra người, đồ vật, giấy tờ tùy thân, thu giữ vũ khí, hung khí của người có hành vi vi phạm pháp luật quả tang; tổ chức cấp cứu nạn nhân, bảo vệ hiện trường và báo cáo ngay cho cơ quan có thẩm quyền; lập hồ sơ ban đầu, lấy lời khai người bị hại, người biết vụ việc, thu giữ, bảo quản vật chứng theo quy định của pháp luật; cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng, thông tin thu thập được và tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền xác minh, xử lý vụ việc; tổ chức bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm đang lẩn trốn trên địa bàn xã; dẫn giải người bị bắt lên cơ quan Công an cấp trên trực tiếp”. Thực tiễn thi hành Pháp lệnh Công an xã cho thấy, quy định nêu trên là phù hợp và đang phát huy tác dụng tốt, phục vụ có hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở địa bàn cơ sở.

Qua thảo luận, Quốc hội nhất trí đề xuất của Chính phủ không quy định Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và có thẩm quyền tố tụng mà chỉ quy định trách nhiệm của  Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an  hỗ trợ hoạt động điều tra với các nội dung cụ thể sau:

(1) Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo các tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

(2) Công an phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo các tài liệu, đồ vật, có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

(3) Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật, có liên quan, lập biên bản bắt người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt lên cơ quan Công an cấp trên trực tiếp hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

8. Về quan hệ phân công và phối hợp trong hoạt động điều tra hình sự.

Pháp lệnh (từ Điều 26 đến Điều 28): Quy định về quan hệ giữa các Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, ủy thác điều ra, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra.

Luật (từ Điều 40 đến Điều 43):

(1) Bổ sung, làm rõ mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra với 02 nội dung mới cơ bản: (ii) khẳng định trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ điều tra của cơ quan điều tra đối với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; (ii) khẳng định việc tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao theo thẩm quyền và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã chuyển giao hồ sơ vụ án là trách nhiệm của cơ quan điều tra.

(2) Mặc dù Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự không quy định về lực lượng trinh sát vì hoạt động trinh sát không phải là hoạt động điều tra theo tố tụng. Tuy nhiên, để làm rõ vai trò của lực lượng trinh sát trong hoạt động điều tra hình sự, Luật đã quy định về quan hệ giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát trong điều tra hình sự. Trong đó xác định quan hệ giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát là quan hệ phối hợp, hỗ trợ trong phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xử lý và phòng ngừa tội phạm; xác định cụ thể trách nhiệm của các đơn vị trong quan hệ phối hợp, cụ thể:

Trong quan hệ với đơn vị điều tra, đơn vị trinh sát có trách nhiệm sau đây:

- Áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để phát hiện hành vi vi phạm pháp luật và cung cấp thông tin cho đơn vị điều tra để điều tra, xử lý;

- Áp dụng biện pháp nghiệp vụ để hỗ trợ đơn vị điều tra tiến hành hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ, ngăn chặn tội phạm và truy bắt người phạm tội;

- Áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao;

- Phát hiện sơ hở, thiếu sót trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế để kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan có biện pháp khắc phục;

- Áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để hạn chế, loại trừ nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật.

Trong quan hệ với đơn vị trinh sát, đơn vị điều tra có trách nhiệm sau đây:

- Cung cấp thông tin về tội phạm và người phạm tội cho đơn vị trinh sát để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 42 Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự;

- Phối hợp với đơn vị trinh sát đánh giá, xác định những sơ hở, thiếu sót trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế để kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan có biện pháp khắc phục;

- Đánh giá nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm, phương thức, thủ đoạn phạm tội trong các vụ án hình sự để trao đổi, phối hợp với đơn vị trinh sát thực hiện công tác phòng ngừa, phát hiện tội phạm.

Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định việc áp dụng các biện pháp cần thiết trong phối hợp hoạt động giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát trong điều tra vụ án hình sự. Các biện pháp phải được giữ bí mật theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

 (3) Luật quy định cụ thể về trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan Công an, Quân đội các cấp đối với hoạt động điều tra hình sự trên cơ sở phân biệt rõ thẩm quyền điều tra theo tố tụng với thẩm quyền hành chính. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thủ trưởng cơ quan Công an, Quân đội các cấp có liên quan đến tổ chức, hoạt động điều tra hình sự có trách nhiệm sau đây:

- Thực hiện đúng quy định của pháp luật để bảo đảm tính độc lập, khách quan trong quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên và các chức danh khác trong hoạt động điều tra hình sự;

- Bảo đảm các điều kiện cần thiết về nhân lực, cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị, kinh phí và điều kiện cần thiết khác cho hoạt động điều tra hình sự;

- Chỉ đạo, tổ chức các lực lượng phối hợp, hỗ trợ cho hoạt động điều tra hình sự;

- Tiến hành các hoạt động, biện pháp theo quy định của Luật Công an nhân dân, Luật An ninh quốc gia và pháp luật khác có liên quan để thu thập thông tin, tài liệu cần thiết hỗ trợ cho hoạt động điều tra hình sự;

- Tổ chức lực lượng hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thu thập chứng cứ và bảo vệ các hoạt động tố tụng hình sự;

- Tiến hành các biện pháp theo quy định của pháp luật để ngăn ngừa các hành vi cản trở, làm sai lệch kết quả điều tra, xử lý vụ án hình sự.

9. Về chủ thể tiến hành hoạt động điều tra

9.1. Về chế định Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra:

Pháp lệnh (Điều 35): Chỉ quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, không quy định cụ thể về thẩm quyền, trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Luật (Điều 52, Điều 57): Bên cạnh việc kế thừa quy định nêu trên của Pháp lệnh, Luật bổ sung quy định làm rõ ngoài thẩm quyền và trách nhiệm trong tố tụng tư pháp, Thủ trưởng và Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra cũng có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý hành chính tư pháp như:

- Chỉ đạo, điều hành, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác và tổng kết công tác điều tra hình sự;

- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động nghiệp vụ điều tra của Cơ quan điều tra cấp dưới;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.

9.2. Về chế định Điều tra viên:

 - Về nhiệm vụ quyền hạn của Điều tra viên:

Pháp lệnh: không quy định cụ thể 

Luật (Điều 53): Nhằm thực hiện chủ trương: “Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình” trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã phân định thẩm quyền giữa Thủ trưởng Cơ quan điều tra với người trực tiếp tiến hành tố tụng là Điều tra viên theo hướng, những thẩm quyền có tính chất quyết định việc “đóng, mở” một giai đoạn tố tụng, thẩm quyền liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân thì do Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định; hầu hết những quyền hạn để phục vụ cho việc phát hiện hoặc làm sáng tỏ sự thật vụ án do Điều tra viên trực tiếp quyết định. Cụ thể như sau:

Về nhiệm vụ, quyền hạn, (i) Điều tra viên được tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và các hoạt động điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của điều tra viên như sau:

1. Điều tra viên được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Trực tiếp kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm;

b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;

c) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật;

d) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự;

đ) Quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại; quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;

e) Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh hoặc quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, xử lý vật chứng;

g) Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này.

2. Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra về hành vi, quyết định của mình.

(ii) Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự khi được phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự.

Về trách nhiệm, điều tra viên có các trách nhiệm sau:

 (1) Áp dụng các biện pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và pháp luật khác có liên quan để điều tra, xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ;

(2) Tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra;

(3) Từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong các trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định;

(4) Chấp hành quy định của pháp luật về những việc cán bộ, công chức hoặc cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân không được làm; không được tư vấn cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án, vụ việc không đúng quy định của pháp luật; không được can thiệp vào việc giải quyết vụ án, vụ việc hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án, vụ việc; không được đưa hồ sơ, tài liệu vụ án, vụ việc ra khỏi cơ quan nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền; không được tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án, vụ việc mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định...

- Về các ngạch điều tra viên

Pháp lệnh (Điều 30): Điều tra viên có ba bậc là Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp và Điều tra viên cao cấp.

Luật (Điều 45): Để bảo đảm sự phù hợp với quy định về các ngạch thẩm phán, kiểm sát viên trong quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã thay “các bậc điều tra viên” thành “các ngạch điều tra viên” nhưng vẫn kế thừa 3 ngạch điều viên, bao gồm: Điều tra viên sơ cấp; Điều tra viên trung cấp; Điều tra viên cao cấp.

- Về chế độ thi tuyển, tuyển chọn điều tra viên

Pháp lệnh (từ Điều 29 đến Điều 32, Điều 34): Thực hiện chế độ xét tuyển chọn điều tra viên. Theo đó, thành lập hội đồng tuyển chọn điều tra viên các bậc trong Công an nhân dân, trong Quân đội nhân dân và ở VKSND tối cao.

Hội đồng tuyển chọn điều tra viên cao cấp trong Công an nhân dân và điều tra viên trung cấp, điều tra viên sơ cấp ở các Cơ quan điều tra Bộ Công an gồm có Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra, Vụ tổ chức - cán bộ và Vụ pháp chế Bộ Công an là uỷ viên.

Hội đồng tuyển chọn điều tra viên trong Quân đội nhân dân gồm có Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan An ninh điều tra, Vụ tổ chức cán bộ và Vụ pháp chế Bộ Quốc phòng là uỷ viên.

Hội đồng tuyển chọn Điều tra viên ở VKSND tối cao do một Phó viện trưởng VKSND tối cao làm Chủ tịch, đại diện Uỷ ban kiểm sát VKSND tối cao, đại diện lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự trung ương, Cơ quan điều tra và Vụ tổ chức - cán bộ VKSND tối cao là uỷ viên.

Luật (từ Điều 45 đến Điều 49, Điều 55, Điều 56): Để phù hợp với xu thế chung về tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức, đặc biệt là việc bổ nhiệm các chức danh tư pháp khác như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã bỏ cơ chế bổ nhiệm Điều tra viên qua tuyển chọn theo Pháp lệnh năm 2004 và thay bằng cơ chế thi tuyển Điều tra viên. Quy định theo hướng này sẽ buộc Điều tra viên sẽ phải không ngừng nâng trình độ để đáp ứng yêu cầu công tác. Trên cơ sở đó, Luật đã thay quy định về Hội đồng tuyển chọn điều tra viên bằng Hội đồng thi tuyển Điều tra viên các ngạch trong Công an nhân dân, trong Quân đôi nhân dân và ở VKSND tối cao. Cụ thể như sau:

Về Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trong Công an nhân dân, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã thay “Hội đồng tuyển chọn... theo Pháp lệnh thành Hội đồng thi tuyển Điều tra viên cao cấp trong Công an nhân dân và Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên sơ cấp ở các Cơ quan điều tra Bộ Công an. Thành phần tham gia Hội đồng cũng có nhiều thay đổi, cụ thể gồm: Chủ tịch là Thứ trưởng Bộ Công an do Bộ trưởng Bộ Công an chỉ định; các ủy viên là đại diện lãnh đạo Tổng cục Chính trị Công an nhân dân, đại diện lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra, Cục Tổ chức Cán bộ và Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp Bộ Công an.

Tương tự như vậy, thành lập Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên sơ cấp ở Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện gồm có Chủ tịch là Giám đốc Công an cấp tỉnh; các ủy viên là đại diện lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra, Phòng Tổ chức Cán bộ và Phòng Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp hoặc Phòng Tham mưu Công an cấp tỉnh;

Danh sách uỷ viên Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trong Công an nhân dân do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thi tuyển.

Về Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trong Quân đội nhân dân, để thực hiện cơ chế thi tuyển Điều tra viên trong Quân đội nhân dân, Luật chỉnh lý “Hội đồng tuyển chọn...” thành Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trong Quân đội nhân dân. Thành phần của Hội đồng cũng có nhiều điểm mới, gồm: Chủ tịch là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ định; các ủy viên là đại diện lãnh đạo Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, đại diện lãnh đạo Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan An ninh điều tra, Cục Cán bộ và Vụ Pháp chế Bộ Quốc phòng.

Danh sách uỷ viên Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trong Quân đội nhân dân do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thi tuyển.

Về Hội đồng thi tuyển Điều tra viên ở VKSND tối cao, Luật chỉnh lý: “Hội đồng tuyển chọn...” thành Hội đồng thi tuyển Điều tra viên ở VKSND tối cao với thành phần vẫn được giữ như quy định của Pháp lệnh năm 2004.

Danh sách uỷ viên Hội đồng thi tuyển Điều tra viên ở VKSND tối cao do Viện trưởng VKSND tối cao quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thi tuyển.

Sau khi được thành lập, các Hội đồng thi tuyển Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

(1) Tổ chức thi tuyển Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp;

(2)  Công bố danh sách những người trúng tuyển;

(3) Đề nghị cấp có thẩm quyền bổ nhiệm người đã trúng tuyển làm Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp.

Quy chế làm việc của Hội đồng thi tuyển Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp thuộc Công an nhân dân do Bộ trưởng Bộ Công an quy định, thuộc Quân đội nhân dân do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định, thuộc VKSND tối cao do Viện trưởng VKSND tối cao quy định.

 - Về nhiệm kỳ điều tra viên, hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên:

Pháp lệnh (Điều 30): Nhiệm kỳ của điều tra viên là 05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm; không quy định cụ thể về hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên.

Luật (Điều 51, Điều 58):

(1) Để bảo đảm sự tứng ứng với quy định của pháp luật về nhiệm kỳ của thẩm phán, kiểm sát viên, Luật đã đổi mới theo hướng quy định Điều tra viên được bổ nhiệm lần đầu có thời hạn là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc nâng ngạch thì thời hạn là 10 năm.

(2) Bổ sung quy định về hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên theo hướng kéo dài cho những người có đủ phẩm chất, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với Bộ luật lao động, Luật Công an nhân dân năm 2014, Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 2014.

 9.3. Về chế định Cán bộ điều tra:

Pháp lệnh: Không quy định cụ thể

Luật (Điều 59): Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với quy định của BLTTHS cán bộ điều tra là người tiến hành tố tụng, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã quy định cụ thể về tiêu chuẩn bổ nhiệm, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cán bộ điều tra, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Cán bộ điều tra.

Cán bộ điều tra thuộc các Cơ quan điều tra chuyên trách là người có đủ các tiêu chuẩn Luật định, có thể được bổ nhiệm để giúp Điều tra viên thực hiện một số hoạt động điều tra hình sự như: lấy lý lịch bị can, chụp ảnh bị can, lập danh bản, chỉ bản, lập hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, hồ sơ vụ án… Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp, thu hồi Giấy chứng nhận Cán bộ điều tra  thuộc Quân đội nhân dânCông an nhân dân do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định; Viện KSND tối cao do Viện trưởng Viện KSND tối cao quy định.

Cán bộ điều tra thuộc cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra là là cán bộ làm việc kiêm nhiệm, được giao nhiệm vụ giúp Thủ trưởng cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật TTHS và Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự. Cán bộ điều tra thuộc cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều ra do Thủ trưởng cơ quan phân công theo từng vụ, việc.

10. Về bảo đảm điều kiện cho hoạt động điều tra hình sự

Pháp lệnh (Điều 36, Điều 37): Điều tra viên được hưởng lương, phụ cấp và các chế độ, quyền lợi khác theo quy định của pháp luật; được ưu tiên mua vé đi lại bằng các phương tiện giao thông công cộng, được miễn phí cầu, phà, đường, miễn cước phí giao thông trong thành phố, thị xã khi tiến hành hoạt động điều tra; được sử dụng phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của cơ quan, tổ chức và cá nhân, kể cả những người điều khiển phương tiện ấy, trừ phương tiện của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế và của những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự trong trường hợp cấp thiết, để ngăn chặn hành động phạm tội, đuổi bắt người phạm tội, cấp cứu người bị nạn. Tuy nhiên, phải hoàn trả ngay khi tình huống cấp thiết không còn; trường hợp xảy ra thiệt hại thì Cơ quan điều tra có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.

Kinh phí bảo đảm hoạt động điều tra do ngân sách nhà nước bảo đảm. Việc lập dự toán, quản lý, cấp, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động điều tra được thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nước. Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển công nghệ thông tin và các phương tiện khác để bảo đảm cho các Cơ quan điều tra thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.

Luật (từ Điều 60 đến Điều 63)

- Để bảo đảm đồng bộ với các quy định mới của hệ thống pháp luật, tạo sự linh hoạt trong thực tiễn vẫn dụng, Luật đã bỏ một số quy định không còn phù hợp (ví dụ như: Trong khi tiến hành hoạt động điều tra, điều tra viên được ưu tiên mua vé đi lại bằng các phương tiện giao thông công cộng, được miễn phí cầu, phà, đường, miễn cước phí giao thông trong thành phố, thị xã), thay vào đó là các quy định có tính nguyên tắc. Cụ thể là: (i) Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ Quân đội nhân dân công tác trong các cơ quan điều tra được phong, thăng cấp bậc hàm lực lượng vũ trang nhân dân và hưởng chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật; (ii) Cán bộ, công chức công tác tại Cơ quan điều tra của VKSND tối cao được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật; (iii) Điều tra viên, Cán bộ điều tra được hưởng lương, phụ cấp và các chế độ, chính sách, quyền lợi khác theo quy định của pháp luật; (iv) Trong công tác điều tra hình sự, tập thể, cá nhân có thành tích thì được khen thưởng, bị thiệt hại về tài sản thì được đền bù; cá nhân bị tổn hại về danh dự thì được khôi phục, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

- Để bổ sung biên chế và không ngừng nâng cao trình độ cho đội ngũ Điều tra viên và Cán bộ điều tra, Luật thiết kế một điều riêng về bảo đảm biên chế, đào tạo, bồi dưỡng trong công tác điều tra hình sự; theo đó: (i) Nhà nước bảo đảm biên chế cần thiết cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; (ii) Người làm công tác điều tra hình sự phải được huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

- Theo Luật tổ chức điều tra hình sự thì căn cứ yêu cầu công tác điều tra hình sự, địa bàn hoạt động và điều kiện kinh tế - xã hội, Nhà nước bảo đảm cơ sở vật chất của Cơ quan điều tra gồm có đất đai, trụ sở, công trình; trang thiết bị, công cụ hỗ trợ, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ và các điều kiện vật chất, kỹ thuật khác, nhất là đối với Cơ quan điều tra đóng ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn trọng yếu về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Việc trang bị, quản lý sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ.

Luật tiếp tục kế thừa quy định của Pháp lệnh về việc điều tra viên được huy động, sử dụng phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong trường hợp cần thiết để ngăn chặn hành động phạm tội, đuổi bắt người phạm tội, cấp cứu người bị nạn.

- Tiếp tục kế thừa quy định của Pháp lệnh về bảo đảm kinh phí cho hoạt động điều tra hình sự, bỏ quy định về ưu tiến phát triển công nghệ thông tin và các phương tiện khác vì không còn phù hợp trong thực tiễn.

11. Trách nhiệm quản lý về công tác điều tra hình sự

Pháp lệnh: Không quy định cụ thể

Luật (từ Điều 64 đến Điều 70): Nhằm khắc phục vướng mắc, bất cập trong quy định của Pháp lệnh chưa quy định thống nhất về quản lý đối với công tác điều tra hình sự, Luật đã bổ sung 01 Chương mới, Chương IX quy định về trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong công tác điều tra hình sự. Theo đó, Chính phủ thực hiện trách nhiệm thống nhất quản lý về công tác điều tra hình sự, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành liên quan giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý về công tác điều tra hình sự. Trong đó, Bộ Công an chỉ thực hiện quản lý chung.

Đối với các công tác quản lý nhà nước như thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm trong hoạt động điều tra hình sự, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác điều tra hình sự, quản lý, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức danh Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, cán bộ điều tra… thì của Bộ, Ngành nào do Bộ, Ngành đó thực hiện theo thẩm quyền.

12. Về quy định chuyển tiếp giữa Pháp lệnh và Luật.

- Quy định về chuyển giao thẩm quyền giải quyết vụ án: Đối với những vụ án đang được các Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền quy định trong Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự nhưng đến ngày Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự có hiệu lực mà chưa kết thúc điều tra thì tiếp tục điều tra cho đến khi kết thúc điều tra vụ án. Như vậy, đối với tố giác, tin báo tội phạm theo quy định ti Điều 30, Điều 31 của Luật này tính đến ngày 1/7/2016 chưa khởi tố vụ án thì phải chuyển đến Cơ quan điều tra của VKSND tối cao để giải quyết theo thẩm quyền.

- Quy định về chuyển tiếp công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại chức danh tư pháp. Theo tinh thần của Luật thì kể từ ngày Luật này có hiệu lực, Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp đã được bổ nhiệm theo quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự thì tiếp tục giữ chức danh đó cho đến hết nhiệm kỳ.

III. MỘT SỐ NỘI DUNG CẦN LƯU Ý TRONG THỰC HIỆN THẨM QUYỀN ĐIỀU TRA CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VKSND TỐI CAO, CƠ QUAN ĐIỀU TRA VKSQS TRUNG ƯƠNG

1. Một số quy định mới của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Luật tổ chức Viện KSND năm 2014 có liên quan đến thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra VKSQS trung ương

Điều 20 Luật tổ chức VKSND 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra VKSQS trung ương:

Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra VKSQS trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.

Khoản 3, Điều 163 BLTTHS quy định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra VKSQS trung ương:

Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra VKSQS trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.

Điều 352 BLHS 2015 quy định:

1. Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.

2. Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.

Điều 367 BLHS 2015 quy định:

Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án.

Điều 373 BLHS năm 2015 quy định Tội dùng nhục hình có sửa đổi, bổ sung:

Đối các hành vi khi tiến hành các hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào được coi là phạm tội này.

Điều 374 BLHS năm 2015 quy định Tội bức cung có sửa đổi, bổ sung:

Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì được coi là tội phạm.

Điều 375 BLHS năm 2015 quy định Tội Làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc có quy định bổ sung:

Hành vi làm sai lệch hộ sơ vụ việc trong tố tụng được coi là phạm tội

Điều 377 BLHS năm 2015 quy định Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật:

Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn được coi là tội phạm.

2. Một số quy định mới của Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự có liên quan đến thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của VKSND tối cao.

a) Về tổ chức bộ máy:

Pháp lệnh (Điều 17): Cơ quan điều tra VKSND tối cao gồm có các phòng điều tra và bộ máy giúp việc; Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương gồm có bộ phận điều tra và bộ máy giúp việc.

Luật (Điều 29): Kế thừa quy định của Pháp lệnh về tổ chức bộ máy Cơ quan điều tra VKSND tối cao. Tuy nhiên, đổi mới về tổ chức bộ máy của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương nhằm tạo thuận lợi cho công tác kiện toàn tổ chức bộ máy. Theo đó, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương có Ban điều tra và bộ phận giúp việc.

b) Về thẩm quyền

Pháp lệnh (Điều 18): Cơ quan điều tra VKSND tối cao điều tra các vụ án hình sự về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm nêu trên khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

Luật (Điều 30, Điều 31): Nhằm đảm bảo sự phù hợp với quy định Điều 20 Luật tổ chức VKSND năm 2014, hạn chế vướng mắc, bất cập trong thực tiễn về phân định thẩm quyền điều tra, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã có nhiều đổi mới quan trọng về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Như vậy, ngoài thẩm quyền điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương được mở rộng thẩm quyền điều tra cả về loại tội phạm, cả loại tội danh mới trong BLHS, mở rộng cả về diện đối tượng phạm tội đó là:

(1) Về mở rộng thẩm quyền điều tra về loại tội phạm: Các tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp.

(2) Về mở rộng thẩm quyền điều tra đối với các đối tượng phạm tội là: Những người được giao thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp gồm:

- Điều tra các hành vi phạm tội của những người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tư pháp gồm: Người bào chữa, người giám định, người dịch thuật, quản giáo, cán bộ điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên;

- Điều tra những người trong các cơ quan mới được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra thuộc các đơn vị Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (cấp Bộ), Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao (cấp tỉnh) và các cơ quan của Kiểm ngư (Cục Kiểm ngư, Chi cục Kiểm ngư vùng) và Lực lượng Công an các xã, phường, thị trấn, Đồn Công an.

(3) Về mở rộng thẩm quyền điều tra đối với các loại tội danh được quy định tại Chương XXIV Bộ luật hình sự mới sửa đổi bổ sung và  một số hành vi vi phạm pháp luật được tội phạm hóa gồm:

- Hành vi dùng nhục hình đối với nhưng người bị đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Điều 373 BLHS năm 2015).

- Hành vi sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc (Điều 374 BLHS 2015);

- Hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ việc (Điều 375 BLHS năm 2015 năm 2015);

- Hành vi Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn (Điều 377 năm 2015).

Ngoài ra, Cơ quan điều tra Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương còn có các nhiệm vụ, quyền hạn:

- Tổ chức công tác trực ban hình sự, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm kiến nghị khởi tố; phân loại và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết;

- Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm;

- Tổ chức sơ kết, tổng kết công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và công tác điều tra, xử lý tội phạm thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của BLTTHS./.

 

 

     VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

­­­­­

TÀI LIỆU TẬP HUẤN

LUẬT TỔ CHỨC CƠ QUAN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ NĂM 2015

 

Hà Nội, tháng 4 năm 2016

 

 

LÃNH ĐẠO VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO DUYỆT TÀI LIỆU:

Đồng chí Nguyễn Hải Phong, Phó Viện trưởng thường trực VKSND tối cao;

Đồng chí Bùi Mạnh Cường, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

ĐƠN VỊ CHỦ TRÌ XÂY DỰNG TÀI LIỆU:

Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học

THÀNH VIÊN THAM GIA BIÊN SOẠN TÀI LIỆU:

1. Đồng chí Lê Minh Long, Phó Cục trưởng Cục điều tra VKSND tối cao; Tổ trưởng

2. Đồng chí Dương Văn Quý, Trưởng phòng 1, Cục điều tra VKSNDTC

3. Đồng chí Lại Thị Thu Hà, Trưởng phòng Quản lý khoa học và tổng hợp - Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học

ĐƠN VỊ THẨM ĐỊNH TÀI LIỆU:

Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học

        

 

GIỚI THIỆU NHỮNG ĐIỂM MỚI QUY ĐỊNH TRONG

LUẬT TỔ CHỨC CƠ QUAN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ

I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT TỔ CHỨC CƠ QUAN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ

1. Mục tiêu

Việc xây dựng Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự nhằm tiếp tục thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp và đổi mới tổ chức, hoạt động của Cơ quan điều tra, bảo đảm tính thống nhất và sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật, khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009), nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra hình sự trong tình hình mới.

2. Quan điểm chỉ đạo khi xây dựng Luật

Một là, thể chế hóa chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước về cải cách tư pháp, về tổ chức của các cơ quan điều tra hình sự.

Hai là, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động điều tra hình sự; bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với quy định của các đạo luật mới được Quốc hội thông qua như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự

Ba là, trên cơ sở kết quả tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật về tổ chức điều tra hình sự; kế thừa các quy định còn phù hợp, khắc phục những bất cập, hạn chế của pháp luật về điều tra hình sự; đáp ứng yêu cầu của công tác điều tra hình sự trong tình hình hiện nay và những năm tiếp theo; Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn tổ chức điều tra hình sự của một số nước phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam.

Bốn là, bảo đảm sự chỉ đạo, chỉ huy tập trung thống nhất, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động điều tra hình sự; phân công, phân cấp rành mạch và được kiểm soát chặt chẽ; điều tra nhanh chóng, kịp thời, chính xác, khách quan, toàn diện, đầy đủ, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

II. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỔ CHỨC CƠ QUAN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ

1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 26/11/2015 tại kỳ họp thứ 10 gồm 10 chương, 73 điều quy định về nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự; tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Điều tra viên và các chức danh khác trong điều tra hình sự; quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát trong hoạt động điều tra hình sự; bảo đảm điều kiện hoạt động điều tra hình sự và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Cụ thể như sau:

Chương I. Những quy định chung gồm 14 điều (từ Điều 1 đến Điều 14), quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự; hệ thống các Cơ quan điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra; các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này; trách nhiệm của Viện kiểm sát trong kiểm sát hoạt động điều tra; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và công dân trong hoạt động điều tra; giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động điều tra hình sự; các hành vi bị nghiêm cấm. Nội dung của Chương I là cơ sở để quy định về tổ chức, các nguyên tắc, phân công, phân cấp, phân quyền về điều tra, quan hệ phối hợp, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan điều tra hình sự, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng, Điều tra viên trong hoạt động điều tra hình sự.

Chương II. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra của Công an nhân dân gồm 02 mục với 07 điều (từ Điều 15 đến Điều 21). Cụ thể như sau: 

Mục 1 gồm 03 điều (từ Điều 15 đến Điều 17) quy định về tổ chức bộ máy Cơ quan An ninh điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an, Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh.

Mục 2 gồm 04 điều (từ Điều 18 đến Điều 21) quy định về tổ chức bộ máy của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện.

Chương III. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân gồm 02 mục với 07 điều (từ Điều 22 đến Điều 28). Cụ thể như sau:

Mục 1 gồm 03 điều (từ Điều 22 đến Điều 24) quy định về tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra trong Quân đội nhân dân; Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương.

  Mục 2 gồm 04 điều (từ Điều 25 đến Điều 28) quy định về tổ chức bộ máy của Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân; Nhiệm vụ, quyền hạn Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương; Cơ quan điều tra hình sự khu vực.

Chương IV. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm 03 điều (từ Điều 29 đến Điều 31) quy định về:

- Tổ chức bộ máy Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Chương V. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm 08 điều (từ Điều 32 đến Điều 39) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, các cơ quan của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Chương VI. Quan hệ phân công và phối hợp trong hoạt động điều tra hình sự gồm 05 điều (từ Điều 40 đến Điều 44) quy định về quan hệ giữa các cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát, uỷ thác điều tra, trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan Công an, Quân đội các cấp, trách nhiệm của Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an đối với hoạt động điều tra hình sự.

Chương VII. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Cán bộ điều tra gồm 15 điều (từ Điều 45 đến Điều 59) quy định về: Tiêu chuẩn bổ nhiệm, nhiệm kỳ, hạn tuổi phục vụ; Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên, của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Những việc Điều tra viên không được làm; Hội đồng thi tuyển Điều tra viên các cấp; Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức danh Điều tra viên, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Cán bộ điều tra.

Chương VIII. Bảo đảm điều kiện cho hoạt động điều tra hình sự gồm 04 điều (từ Điều 60 đến Điều 63) quy định về chế độ, chính sách đối với người làm công tác điều tra hình sự; bảo đảm biên chế, đào tạo, bồi dưỡng trong công tác điều tra hình sự; bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí phục vụ hoạt động điều tra hình sự.

Chương IX. Trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong công tác điều tra hình sự gồm 07 điều (từ Điều 64 đến Điều 70) quy định về trách nhiệm quản lý về công tác điều tra hình sự; trách nhiệm trong công tác điều tra hình sự của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng VKSND tối cao, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; trách nhiệm của các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Chương X. Điều khoản thi hành gồm 03 điều (từ Điều 71 đến Điều 73) quy định về hiệu lực thi hành; quy định chuyển tiếp; quy định chi tiết.

2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CƠ BẢN

Giới thiệu những điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản trong Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 (viết tắt là Luật) so với Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009) (viết tắt là Pháp lệnh)

1. Về đối tượng, phạm vi điều chỉnh

Pháp lệnh: Không quy định về vấn đề này nên nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập khi áp dụng Pháp lệnh trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Mặt khác, về kỹ thuật xây dựng văn bản đây cũng là thiếu sót trong quá trình xây dựng Pháp lệnh, không bảo đảm được tính minh bạch, rõ ràng của văn bản quy phạm pháp luật.

Luật (Điều 1, Điều 2): Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã quy định cụ thể về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng luật. Theo đó, phạm vi điều chỉnh của Luật được xác định là quy định về nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự; tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Điều tra viên và các chức danh khác trong điều tra hình sự; quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát trong hoạt động điều tra hình sự; bảo đảm điều kiện cho hoạt động điều tra hình sự và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đối tượng áp dụng Luật gồm: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

2. Về nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự

Pháp lệnh (Điều 5): quy định 03 nguyên tắc cơ bản như sau:

(1) Chỉ Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới được tiến hành điều tra các vụ án hình sự. Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.

(2) Hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; phát hiện chính xác, nhanh chóng mọi hành vi phạm tội, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người có hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

(3) Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấp trên.

Luật (Điều 3): Trên cơ sở kế thừa quy định của Pháp lệnh, Luật đã sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc theo hướng ngắn gọn, rành mạch, rõ ràng và đầy đủ hơn. Theo đó, tổ chức điều tra hình sự phải bảo đảm 04 nguyên tắc sau:

(1) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu được xây dựng trên cơ sở kế thừa nguyên tắc mọi hoạt động điều tra phải tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự trong Pháp lệnh năm 2004. Nguyên tắc này rất cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng các chủ thể của hoạt động điều tra hình sự áp dụng các biện pháp tùy tiện, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, tự do, tài sản và các quyền, lợi ích cơ bản khác của cá nhân, tổ chức

(2) Bảo đảm sự chỉ đạo, chỉ huy tập trung thống nhất, hiệu lực, hiệu quả; phân công, phân cấp rành mạch, chuyên sâu, tránh chồng chéo và được kiểm soát chặt chẽ; điều tra kịp thời, nhanh chóng, chính xác, khách quan, toàn diện, đầy đủ, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội;

(3) Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấp trên; cá nhân chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình;

(4) Chỉ cơ quan, người có thẩm quyền quy định trong Luật này mới được tiến hành hoạt động điều tra hình sự. Trên cơ sở quy định của Pháp lệnh, nguyên tắc này đã được tách thành nguyên tắc độc lập nhằm nhấn mạnh tính chất đặc thù, tách bạch giữa hoạt động điều tra hình sự với các hoạt động điều tra, xác minh của cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là chủ thể của hoạt động điều tra hình sư như: điều tra dân số, điều tra của cơ quan báo chí, công ty thám tử, luật sư.... 

3. Về những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động điều tra hình sự

Pháp lệnh: Không quy định.

Luật (Điều 14): Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm tính khách quan trong hoạt động điều tra hình sự, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã bổ sung quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động điều tra hình sự, bao gồm:

- Làm sai lệch hồ sơ vụ án; truy cứu trách nhiệm hình sự người không có hành vi phạm tội; không truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự; ra quyết định trái pháp luật; ép buộc người khác làm trái pháp luật; làm lộ bí mật điều tra vụ án; can thiệp trái pháp luật vào việc điều tra vụ án hình sự.

- Bức cung, dùng nhục hình và các hình thức tra tấn hoặc đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người hay bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Cản trở người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa, trợ giúp pháp lý; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự.

- Cản trở người bào chữa, người thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện việc bào chữa, trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

- Chống đối, cản trở hoặc tổ chức, lôi kéo, xúi giục, kích động, cưỡng bức người khác chống đối, cản trở hoạt động điều tra hình sự; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người thi hành công vụ trong điều tra hình sự.

4. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra, của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

4.1 Về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra chuyên trách

Pháp lệnh (Điều 3): Quy định chung về nhiệm vụ của Cơ quan điều tra. Theo đó, cơ quan điều tra tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.

Luật (Điều 8): Quy định cụ thể, rõ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra, bao gồm:

(1) Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;

(2) Tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao;

(3) Tiến hành điều tra các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do luật định để phát hiện, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội; lập hồ sơ, đề nghị truy tố;

(4) Tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.

So với Pháp lệnh, Luật đã bổ sung quy định Cơ quan điều tra được tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao. Đây là những nhiệm vụ đã và đang được Cơ quan điều tra thực hiện nhưng lại không được quy định trong Pháp lệnh mà được quy định ở các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh và BLTTHS.

4.2 Về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Pháp lệnh (Điều 4): Quy định chung về nhiệm vụ của các Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trên cơ sở phân định cụ thể quyền hạn của từng cơ quan.

Luật (Điều 10): Bổ sung làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ngay từ khi khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Theo đó, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà tiếp nhận được tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Lut tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Việc bổ sung quy định này là cần thiết nhằm khắc phục những bất cập làm ảnh hưởng đến yêu cầu “nhanh chóng, kịp thời” trong đấu tranh, phòng, chống tội phạm nói chung, điều tra, khám phá tội phạm nói riêng.

5. Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra

Pháp lệnh (Điều 6): Quy định về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra hình sự. Theo đó, Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra; có trách nhiệm phát hiện kịp thời và yêu cầu Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; có quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa đối với những vụ án do Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tra thụ lý điều tra.

Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện những yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Luật (Điều 11): Trên cơ sở kế thừa quy định của Pháp lệnh, sửa đổi, bổ sung phù hợp với quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTHS năm 2015, làm rõ hơn trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát theo quy định pháp luật.

6. V tổ chức b máy và thẩm quyền của Cơ quan điều tra chuyên trách

6.1 Về hệ thống Cơ quan điều tra

Pháp lệnh (Điều 1): Cơ quan điều tra của Công an nhân dân; Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân; Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Luật (Điều 4): trên cơ sở kế thừa quy định của Pháp lệnh về hệ thống Cơ quan điều tra, tiếp tục quy định Hệ thống Cơ quan điều tra gồm: Cơ quan điều tra của Công an nhân dân; Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân; Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

6.2 Tổ chức bộ máy và thẩm quyền của Cơ quan điều tra của Công an nhân dân

a) Về tổ chức bộ máy

- Đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra

Pháp lệnh (Điều 9): Trong tổ chức của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thành lập các Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, tội phạm về tham nhũng, tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, tội phạm về ma túy và Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra. Trong tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thành lập các Phòng, tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện thành lập các đội tương ứng điều tra tội phạm về trật tự xã hội, tội phạm trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, tội phạm về ma túy và Văn phòng (bộ máy giúp việc) Cơ quan Cảnh sát điều tra. Không có tổ chức bộ máy điều tra tội phạm về tham nhũng riêng biệt ở cấp tỉnh, cấp huyện.

Luật (Điều 18): Để bảo đảm sự phù hợp với thực tiễn hoạt động điều tra và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, tăng cường tính chuyên sâu của hoạt động điều tra, đảm bo sự phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra trinh sát và hoạt động điều tra theo tố tụng trong tổ chức bộ máy Cơ quan cảnh sát Điều tra Bộ Công an, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã hợp nhất Cục cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ thành Cục cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế và chức vụ và thành lập mới Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, xâm phạm sở hữu trí tuệ (gọi tắt là Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu). Đồng thời, trong tổ chức bộ máy Cơ quan cảnh sát điều tra Công án cấp tỉnh thành lập mới Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, xâm phạm sở hữu trí tuệ (gọi tắt là Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu); đổi tên phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ thành phòng CSĐT tội phạm về tham nhũng, kinh tế và chức vụ; ở cấp huyện đổi tên đội CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ thành đội CSĐT tội phạm về tham nhũng, kinh tế và chức vụ; gọi tắt của Cục, Phòng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội là Cục, Phòng, Đội Cảnh sát hình sự;  Không quy định Cơ quan Cảnh sát điều tra có “bộ máy giúp việc” và quy định thành lập “Đội điều tra tổng hợp” ở Cơ quan CSĐT - Công an cấp huyện.

- Đối với Cơ quan An ninh điều tra, Luật (Điều 15) kế thừa nguyên quy định của Pháp lệnh (Điều 10): Tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an gồm có các phòng điều tra, phòng nghiệp vụ và Văn phòng Cơ quan An ninh điều tra. Tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh gồm có các đội điều tra, đội nghiệp vụ và bộ máy giúp việc Cơ quan An ninh điều tra.

b) Về thẩm quyền

- Đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra

Pháp lệnh (Điều 11): Phân định thẩm quyền giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp huyện, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an theo hướng: cấp huyện điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của cơ quan Cảnh sát điều tra khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân;  Cấp tỉnh điều tra các tội phạm nêu trên khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra; Cấp trung ương điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Luật (Điều 19, Điều 20, Điều 21): Để giải quyết những vướng mắc, bất cập trên thực tiễn, Luật quy định theo hướng tăng thẩm quyền điều tra cho cấp tỉnh, cấp huyện, tạo điều kiện cho cấp trung ương thực hiện tốt việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác điều tra. Đồng thời, Luật quy định cụ thể, rõ ràng hơn về những trường hợp vụ án thuộc thẩm quyền của cấp dưới nhưng cấp tỉnh, cấp trung ương lấy lên để điều tra. Theo đó, trường hợp tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cấp huyện, cấp tỉnh chỉ điều tra khi tội phạm đó xảy ra trên địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc trung ương, phạm tội có tổ chức hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra. Cấp trung ương chỉ tiến hành điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền cấp tỉnh về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra. Đồng thời, bổ sung thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an tiến hành điều tra các vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại.

- Đối với Cơ quan An ninh điều tra:

Pháp lệnh (Điều 12): Cấp tỉnh điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan An ninh điều tra khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh. Cấp trung ương điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Luật (Điều 16, Điều 17): Tương tự như đổi mới về phân cấp thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp, Luật quy định cấp trung ương chỉ tiến hành điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền cấp tỉnh về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra. Đồng thời, bổ sung thẩm quyền của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an tiến hành điều tra các vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra của Công an nhân dân do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại. Ngoài ra, Luật còn bổ sung thẩm quyền điều tra cho Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh đối với các tội khủng bố, tội tài trợ khủng bố. Đồng thời, để đảm bảo tính linh hoạt, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, nhất là trong trường hợp do yêu cầu chính trị, phải chuyển hướng xử lý đối với tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, Luật còn bổ sung thẩm quyền cho Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh điều tra các vụ án hình sự về tội phạm khác liên quan đến an ninh quốc gia hoặc để đảm bảo khách quan theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Công an.

6.3. Đối với Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân

a) Về tổ chức, bộ máy:  Luật (Điều 22, Điều 25) kế thừa quy định của Pháp lệnh (Điều 13, Điều 14). Theo đó, tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng gồm có các phòng điều tra, phòng nghiệp vụ và bộ máy giúp việc. Tổ chức bộ máy của Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương gồm có Ban điều tra và bộ máy giúp việc.

b) Về thẩm quyền điều tra

- Đối với Cơ quan điều tra hình sự

Pháp lệnh (Điều 15): Phân định thẩm quyền giữa Cơ quan điều tra hình sự khu vực và Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương theo hướng: cấp khu vực điều tra các vụ án hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương;  Cấp quân khu và tương đương điều tra các tội phạm nêu trên khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân khu và tương đương hoặc  các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cấp khu vực nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra; Cấp trung ương điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cấp quân khu và tương đương nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Luật (Điều 26, Điều 27, Điều 28): Nhằm tăng tính rành mạch trong phân cấp thẩm quyền điều tra giữa Cơ quan điều tra các cấp trong quân đội nhân dân, bảo đảm phù hợp với quy định của BLTTHS năm 2015, đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trong quân đội yếu tố nước ngoài, tạo điều kiện Cơ quan điều tra cấp Bộ thực hiện tốt việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác điều tra, Luật đã có những nội dung đổi mới cơ bản như sau:

(1) Làm rõ hơn trường hợp Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng, Cơ quan quan điều tra hình sự quân khu và tương đương điều tra các vụ án về những tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra hình sự cấp dưới. Cụ thể: Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng chỉ tiến hành điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền Cơ quan quan điều tra hình sự quân khu và tương đương về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trên địa bàn nhiều quân khu và tương đương, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

(2) Bổ sung thẩm quyền của Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng điều tra các vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự trong quân đội nhân dân do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại.  

(3) Cơ quan điều tra hình sự khu vực tiến hành điều tra vụ án hình sự về tội phạm quy định từ các Chương XIV đến Chương XXV của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quan sự cùng cấp, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát Quân sự Trung ương và Cơ quan an ninh điều tra trong quân đội nhân dân

- Đối với Cơ quan an ninh điều tra

Pháp lệnh (Điều 16): Cấp quân khu và tương đương điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự quân khu và tương đương; Cấp bộ điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cấp quân khu và tương đương nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Luật (Điều 23, Điều 24):

(1) Làm rõ hơn trường hợp Cơ quan an ninh điều tra Bộ quốc phòng điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan an ninh điều tra cấp quân khu và tương đương. Cụ thể, Cơ quan an ninh điều tra Bộ Quốc phòng chỉ tiến hành điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền Cơ quan quan An ninh điều tra quân khu và tương đương về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trên địa bàn nhiều quân khu và tương đương, hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

(2) Bổ sung thẩm quyền Cơ quan an ninh điều tra quân khu và tương đương điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XIII, Chương XXVI và các tội phạm quy định tại các điều 207, 208, 282, 283, 284, 299, 300, 303, 304, 305, 309, 337, 338, 347, 348, 249 và 350 (Trước đây các điều luật trên thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra hình sự quân đội, trong đó có các tội khủng bố, tội tài trợ khủng bố).

(3) Bổ sung thẩm quyền Cơ quan an ninh Bộ Quốc phòng điều tra vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra của Quân đội nhân dân do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại.

6. V nhiệm vụ, quyền hạn các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

6.1. Về tổ chức hoạt động

Pháp lệnh (Điều 2, các Điều từ 19-25): Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm có Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Luật (Điều 9): Nhằm tạo cơ chế đảm bảo các tố giác, tin báo về tội phạm được tiếp nhận và xử lý nhanh chóng kịp thời, thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, Luật đã có nhiều đổi mới quan trọng trong quy định về tổ chức Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

(1) Nhằm tinh gọn đầu mối cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Luật không quy định Trại tạm giam, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp, Cảnh sát quản lý hành chính là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, vì thực tế cho thấy, đối tượng quản lý của Trại tạm giam, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp là các đối tượng thuộc các vụ án cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử nên nếu các đối tượng này vi phạm pháp luật hình sự trong Trại tạm giam hoặc khi Cảnh sát hỗ trợ tư pháp đang áp giải, quản lý thì Cơ quan điều tra có thẩm quyền sẽ tiến hành khởi tố vụ án, điều tra để bảo đảm khách quan, vì các đối tượng này thường phạm các tội có liên quan đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc chế độ giam giữ. Bên cạnh đó, Trại tạm giam, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp, Cảnh sát quản lý hành chính là các cơ quan quản lý ở các lĩnh vực có tính đặc thù không cao, có trụ sở ngay gần trụ sở của Cơ quan điều tra, nên khi xảy ra vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì các cơ quan này thường báo ngay Cơ quan điều tra chuyên trách có thẩm quyền để tiến hành điều tra. Tổng kết thực tiễn thi hành Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 cho thấy, các cơ quan này không tiến hành khởi tố vụ án hình sự trên thực tế. Việc quy định các cơ quan này có quyền hạn tiến hành một số hoạt động điều tra là không cần thiết.

(2) Bổ sung quy định Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (cấp bộ), Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao (cấp tỉnh) là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin truyền thông, đặc biệt là mạng internet, tội phạm sử dụng công nghệ cao cũng phát triển với nhiều phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt, thay đổi thường xuyên thậm chí là thay đổi hàng giờ, lợi dụng vào sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng internet, có thể coi đây như là một thế giới phẳng không biên giới, tội phạm trong và ngoài nước liên kết hình thành nhiều đường dây, tổ chức phạm tội xuyên quốc gia phạm tội trong nhiều lĩnh vực kinh tế, trật tự an toàn xã hội kể cả an ninh quốc gia.

Dự báo trong thời gian tới, tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao tiếp tục diễn biến phức tạp, với thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, đòi hỏi hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ đối với hoạt động phạm tội sử dụng công nghệ cao phải đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra, kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, giảm thiểu hậu quả thiệt hại, cũng như kịp thời phát hiện thu giữ tang vật, tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội phục vụ công tác điều tra, bảo đảm hiệu quả, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao tuy đã được thành lập, nhưng do chưa được quy định là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực thi nhiệm vụ, không bảo đảm tính kịp thời trong đấu tranh chống loại tội phạm này do đặc thù của tội phạm sử dụng công nghệ cao chủ yếu hoạt động trên môi trường mạng viễn thông, internet, tội phạm sử dụng các thiết bị điện tử công nghệ cao nên thời gian gây án thường diễn ra rất nhanh, rất dễ thay đổi, che dấu thông tin, trốn tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng; các dấu vết liên quan đến hoạt động phạm tội chủ yếu là các dữ liệu điện tử nên rất dễ sửa chữa hoặc tẩy xóa. Rất nhiều vụ phạm tội được phát hiện nhưng do không có thẩm quyền điều tra ban đầu như tiến hành khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu… nên sau khi báo Cơ quan điều tra để phối hợp thì thời cơ đã qua, tài liệu, chứng cứ đã bị tội phạm che dấu hoặc xóa mất.

Tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đa số các quốc gia trên thế giới đều thành lập các cơ quan đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao có thẩm quyền tiến hành điều tra, ví dụ: Nga, Mỹ đều có cơ quan điều tra tội phạm mạng; Nhật Bản, Trung Quốc thành lập Cục Bảo vệ an ninh mạng; Úc thành lập Trung tâm phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao; Hàn quốc, Srilanca, Lào, Philippin... cũng đều có Cục cảnh sát điều tra tội phạm mạng. Tất cả các cơ quan này đều là các cơ quan có thẩm quyền điều tra để thuận lợi, chủ động hơn trong quá trình điều tra, xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao. Xu hướng của các nước trên thế giới là tăng cường hợp tác nhằm đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm này. Hội đồng liên minh Nghị viện thế giới đã có nghị quyết về vấn đề phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trong tình hình hiện nay, đồng thời đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này, Luật đã bổ sung quy định Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao là cơ quan của lực lượng Cảnh sát được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm ghi nhận thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu của Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.

(3) Bổ sung Kiểm ngư (Cục Kiểm ngư, Chi cục Kiểm ngư vùng) là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để tạo cơ sở pháp lý cho lực lượng này làm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển đảo và đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực thủy sản trên biển.

6.2. Về thẩm quyền và thời hạn điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

a) Về thẩm quyền điều tra

Pháp lệnh (Điều 4, các điều từ Điều 19 đến Điều 25): Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo thẩm quyền nhưng không có nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Do vậy, mặc dù trong thực tiễn các cơ quan này tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm (có dấu hiệu của tội phạm) thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan mình nhưng không được giải quyết mà phải chuyển đến cho cơ quan điều tra để giải quyết. Theo đó, không bảo đảm mục đích nhanh chóng, kịp thời trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Luật (Điều 10, các điều từ Điều 32 đến Điều 39)

(1) Nhằm khắc phục bất cập của thực tiễn, Luật quy định các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và điều tra theo quy định của Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự và quy định của BLTTHS.

(2) Để bảo đảm tính kịp thời trong việc xử lý, giải quyết đối với tin báo, tố giác về tội phạm và các vụ án xảy ra ở nơi xa xôi, hẻo lánh. Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự quy định bổ sung quyền hạn điều tra cho Đồn Biên phòng đóng ở vùng sâu, vùng xa được tiến hành điều tra đối với 9 tội có liên quan đến yếu tố qua biên giới, như các tội: buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới… và giao Chính phủ xem xét, quyết định các Đồn biên phòng được coi là ở vùng sâu, vùng xa.

b) Về thời hạn điều tra:

Pháp lệnh (Điều 4, các điều từ Điều 19 đến Điều 25): Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển có quyền hạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đề nghị truy tố trong thời hạn 20 ngày kể từ khi khởi tố vụ án đối với tội phạm quả tang, ít nghiêm trọng, chứng cứ, lý lịch rõ ràng. Tuy nhiên, tổng kết thực tiễn cho thấy, thời hạn quy định 20 ngày không đủ để các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển tiến hành điều tra, hoàn thiện hồ sơ để chuyển Viện kiểm sát đề nghị truy tố. Bên cạnh đó, Pháp lệnh quy định về quyền hạn khởi tố bị can trong trường hợp này của Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, chỉ quy định chung là tiến hành các biện khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng lại không quy định rõ họ có thẩm quyền hỏi cung bị can nên thiếu cơ sở pháp lý để Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển thực hiện quyền hạn của mình.

Luật (Điều 10, các điều từ Điều 32 đến Điều 39): Nhằm khắc phục vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự tăng thời hạn điều tra cho các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Kiểm ngư khi điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng từ 20 ngày lên 01 tháng. Đồng thời, dẫn chiếu thẩm quyền sang BLTTHS năm 2015, quy định Thủ trưởng các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền hỏi cung bị can đối với các vụ án mà các cơ quan này đã khởi tố bị can.

7. Về trách nhiệm của Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an trong hoạt động điều tra hình sự

Pháp lệnh: Không quy định

Luật (Điều 44): Trong quá trình xây dựng dự án Luật có hai loại ý kiến: Loại thứ nhất cho rằng không nên quy định trách nhiệm của Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an vào trong Luật này. Bởi vì trên thực tế, Công an xã là lực lượng bán chuyên trách, trình độ của Công an xã vẫn còn hạn chế, chưa được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ điều tra. Việc giao thêm một số hoạt động điều tra ban đầu cho Công an xã sẽ vượt quá khả năng của Công an xã, dễ dẫn đến việc làm sai lệch trong điều tra vụ án hình sự, gây khó khăn cho cơ quan điều tra chuyên trách hoặc làm bỏ lọt tội phạm. Loại ý kiến thứ hai nhất trí tán thành với việc đưa trách nhiệm của Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an vào trong Luật này, bởi lẽ trên thực tế rất nhiều trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an là cơ quan trực tiếp và đầu tiên tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Việc giao các cơ này tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển cho cơ quan điều tra chuyên trách, phối hợp với cơ quan điều tra trong hoạt động điều tra hình sự là phù hợp, nhất là ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa. Mặt khác, Điều 9 Pháp lệnh Công an xã năm 2008 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Công an xã: “Tiếp nhận, phân loại, xử lý theo thẩm quyền các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã; kiểm tra người, đồ vật, giấy tờ tùy thân, thu giữ vũ khí, hung khí của người có hành vi vi phạm pháp luật quả tang; tổ chức cấp cứu nạn nhân, bảo vệ hiện trường và báo cáo ngay cho cơ quan có thẩm quyền; lập hồ sơ ban đầu, lấy lời khai người bị hại, người biết vụ việc, thu giữ, bảo quản vật chứng theo quy định của pháp luật; cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng, thông tin thu thập được và tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền xác minh, xử lý vụ việc; tổ chức bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm đang lẩn trốn trên địa bàn xã; dẫn giải người bị bắt lên cơ quan Công an cấp trên trực tiếp”. Thực tiễn thi hành Pháp lệnh Công an xã cho thấy, quy định nêu trên là phù hợp và đang phát huy tác dụng tốt, phục vụ có hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở địa bàn cơ sở.

Qua thảo luận, Quốc hội nhất trí đề xuất của Chính phủ không quy định Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và có thẩm quyền tố tụng mà chỉ quy định trách nhiệm của  Công an xã, phường, thị trấn, đồn Công an  hỗ trợ hoạt động điều tra với các nội dung cụ thể sau:

(1) Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo các tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

(2) Công an phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo các tài liệu, đồ vật, có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

(3) Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật, có liên quan, lập biên bản bắt người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt lên cơ quan Công an cấp trên trực tiếp hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

8. Về quan hệ phân công và phối hợp trong hoạt động điều tra hình sự.

Pháp lệnh (từ Điều 26 đến Điều 28): Quy định về quan hệ giữa các Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, ủy thác điều ra, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra.

Luật (từ Điều 40 đến Điều 43):

(1) Bổ sung, làm rõ mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra với 02 nội dung mới cơ bản: (ii) khẳng định trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ điều tra của cơ quan điều tra đối với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; (ii) khẳng định việc tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao theo thẩm quyền và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã chuyển giao hồ sơ vụ án là trách nhiệm của cơ quan điều tra.

(2) Mặc dù Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự không quy định về lực lượng trinh sát vì hoạt động trinh sát không phải là hoạt động điều tra theo tố tụng. Tuy nhiên, để làm rõ vai trò của lực lượng trinh sát trong hoạt động điều tra hình sự, Luật đã quy định về quan hệ giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát trong điều tra hình sự. Trong đó xác định quan hệ giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát là quan hệ phối hợp, hỗ trợ trong phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xử lý và phòng ngừa tội phạm; xác định cụ thể trách nhiệm của các đơn vị trong quan hệ phối hợp, cụ thể:

Trong quan hệ với đơn vị điều tra, đơn vị trinh sát có trách nhiệm sau đây:

- Áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để phát hiện hành vi vi phạm pháp luật và cung cấp thông tin cho đơn vị điều tra để điều tra, xử lý;

- Áp dụng biện pháp nghiệp vụ để hỗ trợ đơn vị điều tra tiến hành hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ, ngăn chặn tội phạm và truy bắt người phạm tội;

- Áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao;

- Phát hiện sơ hở, thiếu sót trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế để kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan có biện pháp khắc phục;

- Áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để hạn chế, loại trừ nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật.

Trong quan hệ với đơn vị trinh sát, đơn vị điều tra có trách nhiệm sau đây:

- Cung cấp thông tin về tội phạm và người phạm tội cho đơn vị trinh sát để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 42 Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự;

- Phối hợp với đơn vị trinh sát đánh giá, xác định những sơ hở, thiếu sót trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế để kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan có biện pháp khắc phục;

- Đánh giá nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm, phương thức, thủ đoạn phạm tội trong các vụ án hình sự để trao đổi, phối hợp với đơn vị trinh sát thực hiện công tác phòng ngừa, phát hiện tội phạm.

Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định việc áp dụng các biện pháp cần thiết trong phối hợp hoạt động giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát trong điều tra vụ án hình sự. Các biện pháp phải được giữ bí mật theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

 (3) Luật quy định cụ thể về trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan Công an, Quân đội các cấp đối với hoạt động điều tra hình sự trên cơ sở phân biệt rõ thẩm quyền điều tra theo tố tụng với thẩm quyền hành chính. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thủ trưởng cơ quan Công an, Quân đội các cấp có liên quan đến tổ chức, hoạt động điều tra hình sự có trách nhiệm sau đây:

- Thực hiện đúng quy định của pháp luật để bảo đảm tính độc lập, khách quan trong quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên và các chức danh khác trong hoạt động điều tra hình sự;

- Bảo đảm các điều kiện cần thiết về nhân lực, cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị, kinh phí và điều kiện cần thiết khác cho hoạt động điều tra hình sự;

- Chỉ đạo, tổ chức các lực lượng phối hợp, hỗ trợ cho hoạt động điều tra hình sự;

- Tiến hành các hoạt động, biện pháp theo quy định của Luật Công an nhân dân, Luật An ninh quốc gia và pháp luật khác có liên quan để thu thập thông tin, tài liệu cần thiết hỗ trợ cho hoạt động điều tra hình sự;

- Tổ chức lực lượng hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thu thập chứng cứ và bảo vệ các hoạt động tố tụng hình sự;

- Tiến hành các biện pháp theo quy định của pháp luật để ngăn ngừa các hành vi cản trở, làm sai lệch kết quả điều tra, xử lý vụ án hình sự.

9. Về chủ thể tiến hành hoạt động điều tra

9.1. Về chế định Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra:

Pháp lệnh (Điều 35): Chỉ quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, không quy định cụ thể về thẩm quyền, trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Luật (Điều 52, Điều 57): Bên cạnh việc kế thừa quy định nêu trên của Pháp lệnh, Luật bổ sung quy định làm rõ ngoài thẩm quyền và trách nhiệm trong tố tụng tư pháp, Thủ trưởng và Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra cũng có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý hành chính tư pháp như:

- Chỉ đạo, điều hành, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác và tổng kết công tác điều tra hình sự;

- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động nghiệp vụ điều tra của Cơ quan điều tra cấp dưới;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.

9.2. Về chế định Điều tra viên:

 - Về nhiệm vụ quyền hạn của Điều tra viên:

Pháp lệnh: không quy định cụ thể 

Luật (Điều 53): Nhằm thực hiện chủ trương: “Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình” trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã phân định thẩm quyền giữa Thủ trưởng Cơ quan điều tra với người trực tiếp tiến hành tố tụng là Điều tra viên theo hướng, những thẩm quyền có tính chất quyết định việc “đóng, mở” một giai đoạn tố tụng, thẩm quyền liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân thì do Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định; hầu hết những quyền hạn để phục vụ cho việc phát hiện hoặc làm sáng tỏ sự thật vụ án do Điều tra viên trực tiếp quyết định. Cụ thể như sau:

Về nhiệm vụ, quyền hạn, (i) Điều tra viên được tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và các hoạt động điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của điều tra viên như sau:

1. Điều tra viên được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Trực tiếp kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm;

b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;

c) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật;

d) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự;

đ) Quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại; quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;

e) Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh hoặc quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, xử lý vật chứng;

g) Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này.

2. Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra về hành vi, quyết định của mình.

(ii) Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự khi được phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự.

Về trách nhiệm, điều tra viên có các trách nhiệm sau:

 (1) Áp dụng các biện pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và pháp luật khác có liên quan để điều tra, xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ;

(2) Tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra;

(3) Từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong các trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định;

(4) Chấp hành quy định của pháp luật về những việc cán bộ, công chức hoặc cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân không được làm; không được tư vấn cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án, vụ việc không đúng quy định của pháp luật; không được can thiệp vào việc giải quyết vụ án, vụ việc hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án, vụ việc; không được đưa hồ sơ, tài liệu vụ án, vụ việc ra khỏi cơ quan nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền; không được tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án, vụ việc mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định...

- Về các ngạch điều tra viên

Pháp lệnh (Điều 30): Điều tra viên có ba bậc là Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp và Điều tra viên cao cấp.

Luật (Điều 45): Để bảo đảm sự phù hợp với quy định về các ngạch thẩm phán, kiểm sát viên trong quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã thay “các bậc điều tra viên” thành “các ngạch điều tra viên” nhưng vẫn kế thừa 3 ngạch điều viên, bao gồm: Điều tra viên sơ cấp; Điều tra viên trung cấp; Điều tra viên cao cấp.

- Về chế độ thi tuyển, tuyển chọn điều tra viên

Pháp lệnh (từ Điều 29 đến Điều 32, Điều 34): Thực hiện chế độ xét tuyển chọn điều tra viên. Theo đó, thành lập hội đồng tuyển chọn điều tra viên các bậc trong Công an nhân dân, trong Quân đội nhân dân và ở VKSND tối cao.

Hội đồng tuyển chọn điều tra viên cao cấp trong Công an nhân dân và điều tra viên trung cấp, điều tra viên sơ cấp ở các Cơ quan điều tra Bộ Công an gồm có Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra, Vụ tổ chức - cán bộ và Vụ pháp chế Bộ Công an là uỷ viên.

Hội đồng tuyển chọn điều tra viên trong Quân đội nhân dân gồm có Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan An ninh điều tra, Vụ tổ chức cán bộ và Vụ pháp chế Bộ Quốc phòng là uỷ viên.

Hội đồng tuyển chọn Điều tra viên ở VKSND tối cao do một Phó viện trưởng VKSND tối cao làm Chủ tịch, đại diện Uỷ ban kiểm sát VKSND tối cao, đại diện lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự trung ương, Cơ quan điều tra và Vụ tổ chức - cán bộ VKSND tối cao là uỷ viên.

Luật (từ Điều 45 đến Điều 49, Điều 55, Điều 56): Để phù hợp với xu thế chung về tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức, đặc biệt là việc bổ nhiệm các chức danh tư pháp khác như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã bỏ cơ chế bổ nhiệm Điều tra viên qua tuyển chọn theo Pháp lệnh năm 2004 và thay bằng cơ chế thi tuyển Điều tra viên. Quy định theo hướng này sẽ buộc Điều tra viên sẽ phải không ngừng nâng trình độ để đáp ứng yêu cầu công tác. Trên cơ sở đó, Luật đã thay quy định về Hội đồng tuyển chọn điều tra viên bằng Hội đồng thi tuyển Điều tra viên các ngạch trong Công an nhân dân, trong Quân đôi nhân dân và ở VKSND tối cao. Cụ thể như sau:

Về Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trong Công an nhân dân, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã thay “Hội đồng tuyển chọn... theo Pháp lệnh thành Hội đồng thi tuyển Điều tra viên cao cấp trong Công an nhân dân và Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên sơ cấp ở các Cơ quan điều tra Bộ Công an. Thành phần tham gia Hội đồng cũng có nhiều thay đổi, cụ thể gồm: Chủ tịch là Thứ trưởng Bộ Công an do Bộ trưởng Bộ Công an chỉ định; các ủy viên là đại diện lãnh đạo Tổng cục Chính trị Công an nhân dân, đại diện lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra, Cục Tổ chức Cán bộ và Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp Bộ Công an.

Tương tự như vậy, thành lập Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên sơ cấp ở Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện gồm có Chủ tịch là Giám đốc Công an cấp tỉnh; các ủy viên là đại diện lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra, Phòng Tổ chức Cán bộ và Phòng Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp hoặc Phòng Tham mưu Công an cấp tỉnh;

Danh sách uỷ viên Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trong Công an nhân dân do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thi tuyển.

Về Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trong Quân đội nhân dân, để thực hiện cơ chế thi tuyển Điều tra viên trong Quân đội nhân dân, Luật chỉnh lý “Hội đồng tuyển chọn...” thành Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trong Quân đội nhân dân. Thành phần của Hội đồng cũng có nhiều điểm mới, gồm: Chủ tịch là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ định; các ủy viên là đại diện lãnh đạo Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, đại diện lãnh đạo Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan An ninh điều tra, Cục Cán bộ và Vụ Pháp chế Bộ Quốc phòng.

Danh sách uỷ viên Hội đồng thi tuyển Điều tra viên trong Quân đội nhân dân do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thi tuyển.

Về Hội đồng thi tuyển Điều tra viên ở VKSND tối cao, Luật chỉnh lý: “Hội đồng tuyển chọn...” thành Hội đồng thi tuyển Điều tra viên ở VKSND tối cao với thành phần vẫn được giữ như quy định của Pháp lệnh năm 2004.

Danh sách uỷ viên Hội đồng thi tuyển Điều tra viên ở VKSND tối cao do Viện trưởng VKSND tối cao quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thi tuyển.

Sau khi được thành lập, các Hội đồng thi tuyển Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

(1) Tổ chức thi tuyển Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp;

(2)  Công bố danh sách những người trúng tuyển;

(3) Đề nghị cấp có thẩm quyền bổ nhiệm người đã trúng tuyển làm Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp.

Quy chế làm việc của Hội đồng thi tuyển Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp thuộc Công an nhân dân do Bộ trưởng Bộ Công an quy định, thuộc Quân đội nhân dân do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định, thuộc VKSND tối cao do Viện trưởng VKSND tối cao quy định.

 - Về nhiệm kỳ điều tra viên, hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên:

Pháp lệnh (Điều 30): Nhiệm kỳ của điều tra viên là 05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm; không quy định cụ thể về hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên.

Luật (Điều 51, Điều 58):

(1) Để bảo đảm sự tứng ứng với quy định của pháp luật về nhiệm kỳ của thẩm phán, kiểm sát viên, Luật đã đổi mới theo hướng quy định Điều tra viên được bổ nhiệm lần đầu có thời hạn là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc nâng ngạch thì thời hạn là 10 năm.

(2) Bổ sung quy định về hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên theo hướng kéo dài cho những người có đủ phẩm chất, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với Bộ luật lao động, Luật Công an nhân dân năm 2014, Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 2014.

 9.3. Về chế định Cán bộ điều tra:

Pháp lệnh: Không quy định cụ thể

Luật (Điều 59): Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với quy định của BLTTHS cán bộ điều tra là người tiến hành tố tụng, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã quy định cụ thể về tiêu chuẩn bổ nhiệm, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cán bộ điều tra, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Cán bộ điều tra.

Cán bộ điều tra thuộc các Cơ quan điều tra chuyên trách là người có đủ các tiêu chuẩn Luật định, có thể được bổ nhiệm để giúp Điều tra viên thực hiện một số hoạt động điều tra hình sự như: lấy lý lịch bị can, chụp ảnh bị can, lập danh bản, chỉ bản, lập hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, hồ sơ vụ án… Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp, thu hồi Giấy chứng nhận Cán bộ điều tra  thuộc Quân đội nhân dânCông an nhân dân do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định; Viện KSND tối cao do Viện trưởng Viện KSND tối cao quy định.

Cán bộ điều tra thuộc cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra là là cán bộ làm việc kiêm nhiệm, được giao nhiệm vụ giúp Thủ trưởng cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật TTHS và Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự. Cán bộ điều tra thuộc cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều ra do Thủ trưởng cơ quan phân công theo từng vụ, việc.

10. Về bảo đảm điều kiện cho hoạt động điều tra hình sự

Pháp lệnh (Điều 36, Điều 37): Điều tra viên được hưởng lương, phụ cấp và các chế độ, quyền lợi khác theo quy định của pháp luật; được ưu tiên mua vé đi lại bằng các phương tiện giao thông công cộng, được miễn phí cầu, phà, đường, miễn cước phí giao thông trong thành phố, thị xã khi tiến hành hoạt động điều tra; được sử dụng phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của cơ quan, tổ chức và cá nhân, kể cả những người điều khiển phương tiện ấy, trừ phương tiện của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế và của những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự trong trường hợp cấp thiết, để ngăn chặn hành động phạm tội, đuổi bắt người phạm tội, cấp cứu người bị nạn. Tuy nhiên, phải hoàn trả ngay khi tình huống cấp thiết không còn; trường hợp xảy ra thiệt hại thì Cơ quan điều tra có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.

Kinh phí bảo đảm hoạt động điều tra do ngân sách nhà nước bảo đảm. Việc lập dự toán, quản lý, cấp, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động điều tra được thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nước. Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển công nghệ thông tin và các phương tiện khác để bảo đảm cho các Cơ quan điều tra thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.

Luật (từ Điều 60 đến Điều 63)

- Để bảo đảm đồng bộ với các quy định mới của hệ thống pháp luật, tạo sự linh hoạt trong thực tiễn vẫn dụng, Luật đã bỏ một số quy định không còn phù hợp (ví dụ như: Trong khi tiến hành hoạt động điều tra, điều tra viên được ưu tiên mua vé đi lại bằng các phương tiện giao thông công cộng, được miễn phí cầu, phà, đường, miễn cước phí giao thông trong thành phố, thị xã), thay vào đó là các quy định có tính nguyên tắc. Cụ thể là: (i) Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ Quân đội nhân dân công tác trong các cơ quan điều tra được phong, thăng cấp bậc hàm lực lượng vũ trang nhân dân và hưởng chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật; (ii) Cán bộ, công chức công tác tại Cơ quan điều tra của VKSND tối cao được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật; (iii) Điều tra viên, Cán bộ điều tra được hưởng lương, phụ cấp và các chế độ, chính sách, quyền lợi khác theo quy định của pháp luật; (iv) Trong công tác điều tra hình sự, tập thể, cá nhân có thành tích thì được khen thưởng, bị thiệt hại về tài sản thì được đền bù; cá nhân bị tổn hại về danh dự thì được khôi phục, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

- Để bổ sung biên chế và không ngừng nâng cao trình độ cho đội ngũ Điều tra viên và Cán bộ điều tra, Luật thiết kế một điều riêng về bảo đảm biên chế, đào tạo, bồi dưỡng trong công tác điều tra hình sự; theo đó: (i) Nhà nước bảo đảm biên chế cần thiết cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; (ii) Người làm công tác điều tra hình sự phải được huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

- Theo Luật tổ chức điều tra hình sự thì căn cứ yêu cầu công tác điều tra hình sự, địa bàn hoạt động và điều kiện kinh tế - xã hội, Nhà nước bảo đảm cơ sở vật chất của Cơ quan điều tra gồm có đất đai, trụ sở, công trình; trang thiết bị, công cụ hỗ trợ, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ và các điều kiện vật chất, kỹ thuật khác, nhất là đối với Cơ quan điều tra đóng ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn trọng yếu về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Việc trang bị, quản lý sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ.

Luật tiếp tục kế thừa quy định của Pháp lệnh về việc điều tra viên được huy động, sử dụng phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong trường hợp cần thiết để ngăn chặn hành động phạm tội, đuổi bắt người phạm tội, cấp cứu người bị nạn.

- Tiếp tục kế thừa quy định của Pháp lệnh về bảo đảm kinh phí cho hoạt động điều tra hình sự, bỏ quy định về ưu tiến phát triển công nghệ thông tin và các phương tiện khác vì không còn phù hợp trong thực tiễn.

11. Trách nhiệm quản lý về công tác điều tra hình sự

Pháp lệnh: Không quy định cụ thể

Luật (từ Điều 64 đến Điều 70): Nhằm khắc phục vướng mắc, bất cập trong quy định của Pháp lệnh chưa quy định thống nhất về quản lý đối với công tác điều tra hình sự, Luật đã bổ sung 01 Chương mới, Chương IX quy định về trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong công tác điều tra hình sự. Theo đó, Chính phủ thực hiện trách nhiệm thống nhất quản lý về công tác điều tra hình sự, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành liên quan giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý về công tác điều tra hình sự. Trong đó, Bộ Công an chỉ thực hiện quản lý chung.

Đối với các công tác quản lý nhà nước như thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm trong hoạt động điều tra hình sự, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác điều tra hình sự, quản lý, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức danh Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, cán bộ điều tra… thì của Bộ, Ngành nào do Bộ, Ngành đó thực hiện theo thẩm quyền.

12. Về quy định chuyển tiếp giữa Pháp lệnh và Luật.

- Quy định về chuyển giao thẩm quyền giải quyết vụ án: Đối với những vụ án đang được các Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền quy định trong Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự nhưng đến ngày Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự có hiệu lực mà chưa kết thúc điều tra thì tiếp tục điều tra cho đến khi kết thúc điều tra vụ án. Như vậy, đối với tố giác, tin báo tội phạm theo quy định ti Điều 30, Điều 31 của Luật này tính đến ngày 1/7/2016 chưa khởi tố vụ án thì phải chuyển đến Cơ quan điều tra của VKSND tối cao để giải quyết theo thẩm quyền.

- Quy định về chuyển tiếp công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại chức danh tư pháp. Theo tinh thần của Luật thì kể từ ngày Luật này có hiệu lực, Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp đã được bổ nhiệm theo quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự thì tiếp tục giữ chức danh đó cho đến hết nhiệm kỳ.

III. MỘT SỐ NỘI DUNG CẦN LƯU Ý TRONG THỰC HIỆN THẨM QUYỀN ĐIỀU TRA CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VKSND TỐI CAO, CƠ QUAN ĐIỀU TRA VKSQS TRUNG ƯƠNG

1. Một số quy định mới của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Luật tổ chức Viện KSND năm 2014 có liên quan đến thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra VKSQS trung ương

Điều 20 Luật tổ chức VKSND 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra VKSQS trung ương:

Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra VKSQS trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.

Khoản 3, Điều 163 BLTTHS quy định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra VKSQS trung ương:

Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra VKSQS trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.

Điều 352 BLHS 2015 quy định:

1. Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.

2. Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.

Điều 367 BLHS 2015 quy định:

Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án.

Điều 373 BLHS năm 2015 quy định Tội dùng nhục hình có sửa đổi, bổ sung:

Đối các hành vi khi tiến hành các hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào được coi là phạm tội này.

Điều 374 BLHS năm 2015 quy định Tội bức cung có sửa đổi, bổ sung:

Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì được coi là tội phạm.

Điều 375 BLHS năm 2015 quy định Tội Làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc có quy định bổ sung:

Hành vi làm sai lệch hộ sơ vụ việc trong tố tụng được coi là phạm tội

Điều 377 BLHS năm 2015 quy định Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật:

Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn được coi là tội phạm.

2. Một số quy định mới của Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự có liên quan đến thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của VKSND tối cao.

a) Về tổ chức bộ máy:

Pháp lệnh (Điều 17): Cơ quan điều tra VKSND tối cao gồm có các phòng điều tra và bộ máy giúp việc; Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương gồm có bộ phận điều tra và bộ máy giúp việc.

Luật (Điều 29): Kế thừa quy định của Pháp lệnh về tổ chức bộ máy Cơ quan điều tra VKSND tối cao. Tuy nhiên, đổi mới về tổ chức bộ máy của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương nhằm tạo thuận lợi cho công tác kiện toàn tổ chức bộ máy. Theo đó, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương có Ban điều tra và bộ phận giúp việc.

b) Về thẩm quyền

Pháp lệnh (Điều 18): Cơ quan điều tra VKSND tối cao điều tra các vụ án hình sự về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm nêu trên khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

Luật (Điều 30, Điều 31): Nhằm đảm bảo sự phù hợp với quy định Điều 20 Luật tổ chức VKSND năm 2014, hạn chế vướng mắc, bất cập trong thực tiễn về phân định thẩm quyền điều tra, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã có nhiều đổi mới quan trọng về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Như vậy, ngoài thẩm quyền điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương được mở rộng thẩm quyền điều tra cả về loại tội phạm, cả loại tội danh mới trong BLHS, mở rộng cả về diện đối tượng phạm tội đó là:

(1) Về mở rộng thẩm quyền điều tra về loại tội phạm: Các tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp.

(2) Về mở rộng thẩm quyền điều tra đối với các đối tượng phạm tội là: Những người được giao thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp gồm:

- Điều tra các hành vi phạm tội của những người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tư pháp gồm: Người bào chữa, người giám định, người dịch thuật, quản giáo, cán bộ điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên;

- Điều tra những người trong các cơ quan mới được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra thuộc các đơn vị Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (cấp Bộ), Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao (cấp tỉnh) và các cơ quan của Kiểm ngư (Cục Kiểm ngư, Chi cục Kiểm ngư vùng) và Lực lượng Công an các xã, phường, thị trấn, Đồn Công an.

(3) Về mở rộng thẩm quyền điều tra đối với các loại tội danh được quy định tại Chương XXIV Bộ luật hình sự mới sửa đổi bổ sung và  một số hành vi vi phạm pháp luật được tội phạm hóa gồm:

- Hành vi dùng nhục hình đối với nhưng người bị đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Điều 373 BLHS năm 2015).

- Hành vi sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc (Điều 374 BLHS 2015);

- Hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ việc (Điều 375 BLHS năm 2015 năm 2015);

- Hành vi Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn (Điều 377 năm 2015).

Ngoài ra, Cơ quan điều tra Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương còn có các nhiệm vụ, quyền hạn:

- Tổ chức công tác trực ban hình sự, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm kiến nghị khởi tố; phân loại và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết;

- Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm;

- Tổ chức sơ kết, tổng kết công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và công tác điều tra, xử lý tội phạm thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của BLTTHS./.

(Nguồn: Nguồn: Pháp chế PV11 )
Share |
CÁC TIN ĐÃ ĐĂNG
Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung: Điều 115 – BLHS năm 1999 về Tội giao cấu với trẻ em
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
PHÁP LỆNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ, VẬT LIỆU NỔ VÀ CÔNG CỤ HỖ TRỢ
Thông tư quy định chi tiết thi hành các quy định của bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
THỐNG KÊ CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT MỚI NĂM 2011 - 2012
MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA THÔNG TƯ SỐ 111/2013/TT-BTC
Không xử phạt xe không chính chủ trong năm 2014
Hỏi đáp pháp luật: Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên
Tổng hợp thay đổi các mức phạt giao thông đường bộ
Một số nội dung cơ bản của nghị định số 111/2013/NĐ-CP
Các Luật mới vừa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIII
Nâng cao hiệu quả tuyên truyền về bảo đảm an toàn giao thông
Nâng cao chất lượng giám sát việc thực thi pháp luật
Qua 2 năm thực hiện Luật An toàn thực phẩm
Xúc phạm danh dự của nhà báo sẽ bị phạt tiền
Lễ tuyên thệ thành lập phòng Quản lý xuất, nhập cảnh và Tiểu đoàn Cảnh sát Cơ động, thuộc phòng Cảnh sát Bảo vệ - Cơ động Công an tỉnh Nam Định.
Lãnh đạo Bộ Công an gửi thư khen, phần thưởng cho CBCS Phòng PC47 Công an tỉnh Nam Định
Công an Nam Định nhận Cờ “ Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua” năm 2013 của Chính phủ
Công an TP Nam Định: BẮT ĐỐI TƯỢNG VẬN CHUYỂN 16KG PHÁO
Giao nhận công dân phục vụ có thời hạn trong lực lượng Công an nhân dân
Nam Định: Chung kết hội thi tuyên truyền phong trào “ An toàn trường học” lần thứ nhất năm 2013.
Một số nội dung cơ bản của nghị định số 111/2013/NĐ-CP
TÀI LIỆU TẬP HUẤN BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
Nâng cao hiệu quả tuyên truyền về bảo đảm an toàn giao thông
TÀI LIỆU TẬP HUẤN LUẬT TỔ CHỨC CƠ QUAN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ NĂM 2015
TÀI LIỆU TẬP HUẤN LUẬT THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM NĂM 2015
Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung: Điều 115 – BLHS năm 1999 về Tội giao cấu với trẻ em
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
HỎI VÀ ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ: Quần chúng nhân dân đánh bị thương, đánh chết trộm và huỷ hoại tài sản của người phạm tội.
Phỏng vấn Đại tá Nguyễn Văn Thận- Trưởng phòng CSQLHC về TTXH, Công an tỉnh Nam Định
Đặc biệt nguy hiểm khi vượt đèn đỏ
Quốc hội VN
Cổng thông tin Nam Định
Nhân dân Điện Tử
Cơ quan Bộ Công An